Gò 13

By

Gò 13 hay là sự tích gò Đống Đa

 
 Một trong những bức ảnh hiếm hoi về gò Đống Đa xưa do nhiếp ảnh gia Võ An Ninh chụp năm 1942

 

(TT&VH) - Ngày mùng 5 Tết hằng năm là ngày giỗ trận Đống Đa tức là kỷ niệm trận đại thắng của vua Quang Trung đánh tan mấy vạn quân Thanh do Tôn Sĩ Nghị cầm đầu (1789). Theo học giả Doãn Kế Thiện (1891-1965) thì gò Đống Đa vốn được gọi là “Gò 13”. Vì sao lại là “Gò 13”?

   Cụ Sở Bảo (Doãn Kế Thiện) giải rõ lai lịch cái gò này như sau. Theo một tục cổ truyền từ thời Xuân Thu ở Trung Hoa cổ khi một nước nhỏ đánh bại quân xâm lược từ một nước lớn thì người ta cho thu thập hài cốt quân địch lại chất thành đống rồi đổ đất lấp kín thành từng cái gò gọi là “kình nghê kinh quán” (nghĩa là gò to chôn xác kình nghê; kình và nghê là hai loại cá lớn chuyên sống bằng cách nuốt cá bé) những gò này mang ý nghĩa cảnh báo đối với nước lớn hãy trông đó mà coi chừng đừng lặp lại hành động xâm lược mà có ngày bị chôn xác hàng đống như thế.

    Sau trận đại thắng ngày mùng 5 Tết Kỷ Dậu (1789) quân Mãn Thanh chết có tới mấy vạn việc chôn cất cần làm gấp. Vua Quang Trung hạ lệnh cho thu thập những thi thể quân địch xếp vào từng hố một rồi đắp đất cao lên thành gò suốt từ trại Thịnh Quang đến trại Nam Đồng tất cả là 12 cái gọi là 12 kinh quán. Sau đó 63 năm vào năm Tự Đức thứ 4 (1852) Nguyễn Hầu là Kinh lược Bắc Kỳ lĩnh chức Tổng đốc Hà Nội vì mở đường mở chợ trong cánh đồng Thịnh Quang – Nam Đồng lại đào được hàng đống hài cốt chồng chất lên nhau biết rõ đó là hài cốt quân Thanh liền cho thu thập chôn vào một hố đắp thành gò cùng một dãy với 12 gò kia trở thành cái gò thứ 13. Gò này ở cạnh Núi Ốc (Loa Sơn) là chỗ tướng nhà Thanh là Sầm Nghi Đống thắt cổ tự tử. Gò này được đắp dính vào Núi Ốc rồi sau mỗi lần đắp thêm chẳng bao lâu Núi Ốc với Gò 13 nhập thành một gò to và cao hơn các gò kia. Như vậy cả 13 gò đó đều là những chiến tích oanh liệt chống ngoại xâm thời vua Quang Trung.

   Nhưng nhà Tây Sơn chỉ giữ quyền lực được 14 năm (1788 - 1802). Nhà Nguyễn mở đầu bằng triều vua Gia Long là kẻ đã coi Tây Sơn là thù địch nên đối với các dấu tích nhà Tây Sơn để lại nếu không cho phá đi thì cũng để mặc cho mai một theo thời gian không muốn dân chúng nhắc đến nữa. 13 gò này do đó cũng chịu chung số phận. Tuy vậy do gắn với trận thắng lịch sử nó vẫn được dân ta nhớ tới. Ngoài ra các gò này còn được gắn thêm với đặc điểm “đống đa”. Nguyên là sau một năm đê vỡ bị ngập lụt cánh đồng Thịnh Quang – Nam Đồng trở thành cánh đồng hoang khắp nơi đều mọc đầy những cây đa; trên 13 gò này đều có những cây đa mọc um tùm.

   Sau khi quân Pháp chiếm Hà Nội (1882) họ mở đường mở phố. Hoàng Cao Khải dựa thế quân Pháp chiếm vùng Thái Hà làm ấp riêng phá hoại san bằng hết 12 gò kia chỉ có gò 13 vì vừa cao vừa rộng hơn mới còn được để lại. Năm 1883 Nguyễn Hữu Độ làm Kinh lược sứ Bắc Kỳ kiêm Hộ đốc Hà Nội muốn lấy tiếng với sĩ phu đã xin với triều đình Huế cho lập miếu Trung Liệt để thờ hai vị liệt sĩ là Nguyễn Tri Phương và Hoàng Diệu và hai trung thần là Đoàn Thọ và Trương Quốc Dụng. Nhưng sau đấy vì phải đối phó với nhiều cuộc nổi dậy việc xây miếu bị xếp lại. Mãi đến năm 1890 Nguyễn Hữu Độ chết Hoàng Cao Khải lên thay. Ông ta tiếp tục việc xây dựng đó nhưng đổi “miếu” thành “từ” “Trung Liệt” thành “Trung Lương” với ý đồ: sau khi y chết con cháu y sẽ đem bài vị y đặt vào thờ trong đó cùng với các vị trung thần liệt sĩ kể trên. Sau khi đổi tên xong Hoàng Cao Khải còn tổ chức một cuộc thi thơ để gây dư luận tán thành việc làm của mình; nhưng số người hưởng ứng không nhiều lại có những người tham dự để đưa ra những lời thơ rủa mát và chửi thầm kẻ chủ trì.

    Tháng 3/1945 quân Nhật đảo chính Pháp thế lực thân Pháp mất chỗ dựa dân chúng và sĩ phu ta đã quăng bài vị họ Hoàng ra khỏi đền và lại gọi đền là đền Trung Liệt. Theo phần đông sĩ phu thì việc xây đền Trung Liệt trên gò Đống Đa là một việc làm bất chính của một số quan chức triều Nguyễn cố ý làm lu mờ chân tướng di tích một chiến công lịch sử của quân dân ta thời vua Quang Trung. Tuy vậy trên thực tế gò Đống Đa vẫn là gò Đống Đa đền Trung Liệt vẫn là đền Trung Liệt. Mùng 5 Tết hằng năm vẫn được dân chúng các nơi nhớ là ngày giỗ trận lũ lượt kéo về đây tưởng nhớ chiến công đại phá quân xâm lược của quân dân ta năm Kỷ Dậu (1789) dưới sự chỉ huy của vị anh hùng dân tộc Nguyễn Huệ.

(theo: Sở Bảo Doãn Kế Thiện: Một di tích lịch sử nhân ngày mùng 5 Tết: Gò 13 // Sinh hoạt văn hóa Vụ văn hóa đại chúng (Bộ văn hóa) s. 37 số đặc biệt Xuân Mậu Tuất 1958)

Lại Nguyên Ân (thuật lại)

nguồn Báo Thể Thao Văn Hóa (TTX VN) thứ Ba 8/2/2011

http://www.thethaovanhoa.vn/133N20110208094056885T0/go-13-hay-la-su-tich-go-dong-da.htm 

More...

Trăm năm nhìn lại mười năm.

By

Trăm năm nhìn lại mười năm.

Vũ Ninh

Ông nội Ân sinh năm 1910 lúc chào đời ông được tặng một túi tiền xu. Ông nội bạn của Ân là một người Mỹ cũng ra đời năm 1910 đầy tháng tuổi người ta tặng ông 10USD. Năm 2010 đã hết mười năm đầu tiên của thế kỷ 21 đã trôi qua. Một trăm năm đã lùi xa từ ngày ông nội Ân có món tiền đầu đời. Năm 2010 Ân xây lại căn nhà trên mảnh đất hương hỏa có trên trăm năm từ đời cụ đời ông đời cha rồi bây giờ tới Ân và thằng con trai. Trong lúc đào móng nhà người ta phát hiện ra một cái hũ. Tuy chỉ là một chiếc hũ sành màu da lươn nhưng kiểu dáng xưa lạ hơn nữa nhấc lên thấy rất nặng nên mọi người ai cũng nghĩ trong hũ đó phải có cái gì quý giá. Mọi người hồi hộp suy đoán người thì đoán là hũ vàng người thì nói ngày xưa tiêu bằng bạc nén nên chắc là hũ bạc. Chỉ riêng bác Cả trầm ngâm không nói gì cả. Loay hoay mãi rồi người ta cũng cậy được miệng hũ. Một lớp bùn sền sệt đen trào ra bên dưới là những miếng nhỏ tròn tròn bám dính vào nhau. Sau khi rửa sạch mọi người đều thấy đó là những đồng tiền xưa hình tròn có lỗ vuông ở giữa. Bác Cả nghẹn ngào tay hết mân mê những đồng xu kẽm lại đến xoa xoa chiếc hũ. Bác kể năm ấy giặc Pháp càn tới quê ông bà Ân đem những đồ quý giá nhất như lư hương mâm đồng nồi ba nồi bẩy đồ sứ Tàu đem thả xuống ao nhà. Tiền thì dắt một ít vào người còn lại thì cho vào chiếc hũ đem chôn. Bác nhớ chiếc hũ này có chứa túi tiền xu đầu đời của cha mình và những món tiền cả nhà tích cóp trong mấy mươi năm. Những đồng tiền mồ hôi nước mắt ấy bây giờ đã trở thành rỉ sét các hoa văn họa tiết đã mờ hết cả nên dân chơi tiền cổ không mua chúng chỉ còn giá trị kỷ niệm. Ân đem chuyện đào được hũ tiền kể cho anh bạn người Mỹ nghe. Anh ta nói rằng nếu ông Ân ở Mỹ nếu số tiền đó không bị đem chôn mà dùng để đầu tư thì bây giờ cháu cụ đã có thể trở thành triệu phú Đôla. Anh ta chìa cho xem một biểu đồ (xem hình bên dưới)(1) và giải thích: nếu cụ cố anh đầu tư chỉ 1 đôla vào năm 1899 để mua cổ phiếu thì đến năm 2008 cháu cụ đã có 22ngàn745 đô la. Anh ta khoe rằng món tiền thôi nôi 10 USD của ông nội anh ta đã được đầu tư mua cổ phiếu của một hãng dầu lửa. Nghe hắn liệt kê ra hàng loạt chữ “nếu” Ân hơi choáng. Vậy ra nếu đầu tư 10 đôla từ thời ấy thì bây giờ có gần 250 ngàn nếu bỏ ra 100 đô thì vị chi bây giờ đã có gần 2 5 triệu đô. Chu choa! Ân sẽ có 25 triệu Đôla nếu…nếu…nếu…. Mặc dù còn phải trừ tỷ lệ lạm phát cho 100 năm rồi còn phải tính đến ti tỉ chữ “nhưng” như chi phí cơ hội của đồng tiền rủi ro kinh tế chính trị chiến tranh vv…nhưng nhìn vào những con số trên biểu đồ ai cũng thấy rằng đồng tiền mang vào đầu tư lâu dài sẽ mang lại thịnh vượng cho một gia đình và đất nước hơn là đồng tiền cất giữ và đem chôn.

 

 

 Cú hích tài chính 10 năm đầu thế kỷ trước.

Tại sao ông nội Ân lại chôn tiền mà không mang ra làm ăn nhỉ? Mười năm đầu thế kỷ trước kinh tế nước ta ra sao? có cơ hội gì để làm giàu? có chỗ để đầu tư hay không ? Mười năm đầu (2000-2010) của thế kỷ 21 vừa khép lại ngoảnh lại 100 năm trước Ân thấy giai đoạn 1900 tới 1910 đầy ắp các sự kiện kinh tế trong đó đầu tiên phải kể đến sự thay đổi lớn về chính sách tài chính. Nửa cuối thế kỷ 19 thực dân Pháp xâm lược nước ta thiết lập chính quyền rồi mở cuộc khai thác thuộc địa lần thứ nhất. Đồng tiền được dùng thời ấy lúc đầu là đồng bạc có in hình con cò rồi đến năm 1895 thì dùng đồng bạc Đông Dương đúc ở Paris nặng 27gr. Tiền đồng tiền kẽm của nhà Nguyễn vẫn được sử dụng trong nhân dân. Tiền tệ các nước hồi đầu thế kỷ trước đều dựa trên chế độ bản vị. Tức là một lượng tiền mặt trong lưu thông phải được đảm bảo bằng một lượng kim loại vàng bạc dự trữ nhất định ví dụ như có giai đoạn nước Mỹ ấn định cứ 1 Đô la Mỹ bằng 1.603 gam vàng ròng. Chế độ bản vị vàng hoặc bạc nhằm khống chế việc in tiền mở rộng tín dụng và phát hành trái phiếu vì nước nào phát hành tiền mặt ở dạng tiền giấy hay tiền xu đều phải có đủ vàng bạc dự trữ và có thể phải sẵn sàng nhận lại tiền mặt và trả lại vàng hay bạc. Tiền tệ nước ta thời đó lấy bạc làm bản vị lượng bạc dự trữ không nhiều nên tiền trong lưu thông cũng ít. Ngày 16-5-1900 Chính phủ Pháp có sắc lệnh cho phép Ngân hàng Ðông Dương ngân hàng được phát hành số trái phiếu nhiều gấp 3 lần số kim loại bản vị dự trữ (2). Đây có thể coi là một chính sách tài chính quan trọng để người Pháp có thêm nguồn tiền. Nhờ chính sách này chính quyền Pháp ở đông dương không còn quá lo lắng về tiền để đầu tư vào đầu tư hạ tầng giao thông. Họ dễ dàng phát hành công trái trái phiếu để làm dự án đường sắt cầu Long biên vv…

Cầu và đường trăm năm trước.

Người làm thay đổi chính sách thuộc địa quyết định xây dựng cả một hệ thống giao thông đường bộ đường sắt cầu cống trên toàn cõi Đông Dương đầu thế kỷ trước chính là ông Paul Doumer Toàn quyền Đông dương người sau này trở thành Tổng thống nước Pháp năm 1932. Ông ta biết rằng mạng lưới giao thông thuận tiện đó là công cụ hữu hiệu nhất để dễ dàng khai thác đến kiệt quệ các nguồn tài nguyên biến Việt nam thành một cái mỏ khổng lồ cung cấp đủ thứ cho mẫu quốc là cách tốt nhất để các công ty Pháp dốc hầu bao dấy lên làn sóng mang tiền sang Việt nam Campuchia Lào làm ăn kiếm lợi. Thế nhưng quyết định xây cầu Long biên ở Hà nội của ông Paul Doumer không phải dễ dàng gì được chấp nhận mà còn vấp sự chỉ trích chống đối phê phán hoài nghi của báo chí quan lại và cả nhiều nhà tư bản quan chức người Pháp. Tờ báo Pháp Thư tín Hải Phòng (Courries de Haiphong) viết rằng ông Paul Doumer chẳng biết gì về tính khí thất thường của con sông Hồng luôn thay đổi dòng chảy mà dám quyết định xây cầu rằng ông Toàn quyền không đếm xỉa gì đến việc toà công sứ tỉnh Hưng Yên đã bị dòng sông nuốt chửng không cần biết trong tỉnh Sơn Tây có một dòng sông cũ cách con sông hiện nay 5km. Rồi không biết cây cầu này có bắc ngang một con sông hay không cầu làm xong thì có dùng được hay không ? (3) . Quan lại nhà Nguyễn thì hoài nghi “Đặt một cây cầu trên sông Hồng à? Thật điên rồ! Y như việc chồng núi này lên núi kia để lên trời. Một con sông rộng như biển sâu tới 20 mét cộng thêm 8 mét nước nữa vào mùa lũ dòng nước sẽ cuốn phăng mọi thứ - không gì chống đỡ nổi…”(4). Là một nhà cai trị độc tài khét tiếng quyền lực vô biên có quân đội trong tay ông Paul Doumer không cần phải lo đến sự phản đối không phải dùng đến biện pháp mạnh để dẹp sự chống đối chỉ trích mà quyết định cho xây cầu. Năm 1867 dự án đã được đem ra đấu thầu công khai. Hãng Daydé&Pillé vượt qua 6 công ty khác trong đó có cả Hãng Eiffel và trúng thầu xây dựng cầu với kinh phí là 6 2 triệu frances trích từ nguồn công trái Đông Dương. Cầu Long biên được khởi công. Cả một núi sắt thép trên 5 ngàn tấn thép chở từ Pháp sang trộn lẫn với xi măng sản xuất tại Hải Phòng; gỗ đá từ Thanh Hoá và các tỉnh lân cận hòa với máu và mồ hôi của dân phu để tạo thành cây cầu lớn nhất Đông dương vào tháng 2 năm 1902 (sau 3 năm 7 tháng thi công nhanh hơn hạn định 5 năm). Năm 1902 cả 2 cây cầu Long biên và cầu sắt Bình lợi đều đã hoàn thành tạo điều kiện cho việc khai thông hàng loạt các tuyến đường sắt khắp cả nước. Trong Nam các tuyến đường sắt từ Sài gòn tới Biên hòa rồi từ Sài gòn tới Nha trang lần lượt được khởi công và nhanh chóng đưa vào sử dụng chỉ mất có vài năm. Ngoài Bắc nhờ cây cầu Long biên nối liền hai bờ sông Hồng mà ngay trong năm đó 2 tuyến đường sắt mới là Hà Nội – Hải Phòng dài 102km và Hà Nội- Đồng Đăng dài 163 km cũng đã thông. Bốn năm sau (1906) Lào cai cũng được nối với Hà nội và sau đó đến 1/1908 đoạn đường sắt Đồng Đăng tới biên giới phía bắc dài 4km cũng đã xong tạo thành tuyến xe lửa Hà Nội- Biên giới Việt Trung dài 167km. Hơn một trăm năm sau năm 2010 dự án làm đường sắt cao tốc Bắc Nam bị phản đối dữ dội còn nước Lào đã đạt được thỏa thuận với Trung Quốc để xây dựng một đường sắt cao tốc nối liền Thủ đô Viêng Chăn Lào tới Côn Minh Trung Quốc. Xem ra không phải chỉ có cầu đường không phải chỉ ngày xưa mà bất kể dự án cấp quốc gia nào ở thời nào cũng cần phải được quyết bởi những nhà lãnh đạo quyết đoán biết tính toán thiệt hơn đặt lợi ích đất nước lên trên mọi toan tính khác.

Cây và đất

Chả phải bây giờ khi văn hóa mặt tiền lên ngôi mới có quy luật “đường mở tới đâu đất giàu tới đó” mà 100 năm trước khi đường sắt đường bộ mở tới đâu là tạo điều kiện để các nhà đầu tư Pháp và sau này có thêm một số điền chủ người Việt mở đồn điền cao su café trà tới đó. Ở Nam kỳ khi đường ray xe lửa chặng Sài gòn ra Phan thiết thi công tới Trảng Bom người ta đã nhìn thấy vùng này chẳng xa Sài gòn mấy đỗi đất đai thì bằng phẳng cây cối xanh tốt mát mẻ phong cảnh hữu tình lại có sông suối Nhạn lớn chảy qua. Thời ấy đất không phải mua không đắt như bây giờ thích làm thì lấy vì thế mấy nhà thầu xây dựng và ông kỹ sư công chánh người châu Âu chỉ huy xây dựng liền hùn tiền lại để làm một trang trại ở đó. Vì nó ở gần một làng Dầu Giây của người Thượng nên họ gọi luôn là trang trại Dầu Giây cho tiện. Vì mục đích ban đầu chỉ là để làm nơi vui chơi cuối tuần nhảy múa hát ca xả stress khi phải xa châu Âu sang xứ nhiệt đới nên họ trồng đủ các loại cây cà phê cacao trà hồ tiêu sả và chăn nuôi bò. Nếu chỉ đơn thuần là trang trại để nghỉ ngơi không thu hoa lợi thì trang trại này chắc cũng không thể thọ được lâu và đã đến lúc họ thấy chán và muốn bán. Nhưng đúng lúc chán thị trường xấu thì có tin tốt. Đầu năm 1905 vườn cao su thử nghiệm của ở Suối Dầu (Nha Trang) và Phú Nhuận (Sài gòn) do nhà bác học A. Yersin (tên ông nay được đặt cho nhiều con đường ở Việt nam) và kỹ sư nông nghiệp G. Vernet đã thành công. Trong một lá thư cho mẹ mình ngày 11.12.1904 ông A.Yersin viết :“Kết quả cạo mủ thử ở Suối Dầu rất đáng khích lệ các cây cao su cho mủ ngày càng nhiều. Có thể chúng con sẽ đạt 250kg mủ khô một cây vào năm sau và 100kg mủ khô bán được ít nhất 1000 francs”.(5) Rất nhanh nhạy các chủ trang trại quyết định chuyển từ đất ăn đất chơi Dầu Giây thành đất làm đất ăn với cây cao su. Chỉ một năm sau (1906) lô cao su đầu tiên ở miền đất đỏ Đông Nam Bộ ra đời với diện tích trên 8ha và từ đó liên tiếp các đồn điền cao su được mở ra ở Đông dương hình thành ra ngành công nghiệp cao su Việt Nam. Một trăm năm sau giá cao su thiên nhiên tiếp tục lên cao chưa từng có. Người ta lại đi tìm đất trồng cao su khiến đất rừng trở thành đất vàng đất bạc. Tập đoàn cao su Việt nam và nhiều công ty khác đang phủ kín đồi hoang đất trọc ở trong nước rồi mở mang sang Lào Campuchia để khơi dòng vàng trắng.

Những vụ M&A lớn từ một trăm năm trước

Trên mặt đất là các lâm thổ sản gỗ rừng hạt càfe cacao mủ cao su dưới lòng đất là quặng bauxít nhôm quặng sắt than. Khắp Đông dương thời ấy và đến tận bây giờ chưa bao giờ hết những nhà đầu tư đến xin đầu tư tìm cách để thuê mua nhượng quyền đất. Câu chuyện về chuyển nhượng mua bán sát nhập (M&A) đầu tiên trong lịch sử kinh tế Việt Nam cận đại có thể là câu chuyện về lịch sử ngành Than. Ngược dòng lịch sử 170 năm về trước vua Minh Mạng chính là người khai sinh ra ngành than bằng chỉ dụ ngày 10 tháng 1 năm 1840 cho phép tổng đốc Hải Yên (Quảng Ninh ngày nay) là Tôn Thất Bật được thuê mướn dân đào lấy than mỏ ở vùng núi An Lãnh thuộc Đông Triều. Tuy vậy do thương mại thời Minh Mạng chưa phát triển nên hàng năm chỉ khai thác vài chục vạn cân để phục vụ nhu cầu trong nước chỉ sau khi các vụ chuyển nhượng làm xong các mỏ than thuộc về Pháp thì việc khai thác mới trở thành ồ ạt. Vụ M&A đầu tiên ở ngành than diễn ra năm 1884 Triều đình nhà Nguyễn ký văn bản nhượng khu vực Hòn Gấc (Hòn Gai Cẩm Phả) cho nhà tư bản Pháp là Ba-vi-ê-sô-phun với giá 40.000 đồng bạc Mễ-Tây-cơ thời hạn 100 năm bắt đầu từ năm 1884(6). Thấy ngon ăn bốn năm sau (1888) triều đình nhà Nguyễn lại bị ép nhượng bán khu vực Mạo Khê - Đông Triều cho các nhà tư bản Pháp để họ lập ra Công ty Pháp mỏ than Bắc Kỳ gọi tắt là S.F.C.T được khai thác từ Bãi Cháy đến Nội Bảng diện tích gần 22 ngàn héc ta.(7) Từ sau các vụ chuyển nhượng đó việc khai thác được đẩy mạnh. Số mỏ than tăng nhanh năm 1907 đã có tới 33 mỏ và đến năm 1911 tăng lên 92 mỏ. Sản lượng than khai thác tăng lên nhanh chóng và chủ yếu được xuất ra khỏi Việt nam.

Cảng & hàng

Mười năm đầu thế kỷ là đỉnh của đợt khai thuộc địa lần thứ nhất (1897-1914). Hàng loạt cơ sở hạ tầng cầu cống đường sắt đường bộ bến cảng được xây dựng tạo điều kiện cho việc mở đồn điền trồng cây công nghiệp khai thác mỏ than quặng kim loại và hàng loạt xí nghiệp nhà máy khác phục vụ cho việc khai thác thuộc đia và nhu cầu của người Pháp ra đời. Nếu năm 1903 mới chỉ có 82 nhà máy thì mỗi năm sau số lượng tăng lên gần gấp đôi đến 1906 đã có 200 nhà máy thuộc nhiều ngành như nhà máy xi măng gạch ngói nhà máy nước nhà máy xay xát gạo nhà máy chai máy tơ thuốc lá rượu đường.... Sài gòn thời ấy là một thương cảng nhộn nhịp bậc nhất châu Á. Tàu bè tấp nập ra vào Cảng Sài gòn và Cảng Hải phòng mang vào bạc nén súng săn nến xi măng thực phẩm Âu dược phẩm nước khoáng bột ngũ cốc đồ kim hoàn đồng hồ dầu ăn giấy quần áo sắt thép đồ sứ nước hoa ô dù sơn màu xà bông đường thuốc lá và xì gà vải các loại đồ thủy tinh dụng cụ nhà bếp các loại bia rượu vang rượu mạnh. Chính sách của Pháp thời đó áp dụng ở Sài gòn có nhiều điểm thoáng hơn rất nhiều nước. Hàng hóa của Pháp nhập vào Nam Kỳ dù chở trên tàu của Pháp hay tàu của nước khác đều được miễn thuế hải quan. Còn hàng hóa xuất đi từ Cảng Sài gòn nếu là thổ sản của thuộc địa thì đều được miễn thuế ngoại trừ cà phê tiêu ớt sa nhân đậu khấu quế trà …thì phải chịu một nửa mức thuế so với thuế đánh vào cùng loại hàng nhập từ các nước khác. Để mở rộng Cảng Sài gòn Pháp đã thu thuế neo đậu cho tàu vào Cảng là 50 xu cho 1 tấn hàng trừ tàu của Pháp và Ý. Những nghị định ưu đãi hàng hóa từ Pháp nhập vào cảng Sài Gòn tiếp tục được ban hành điều chỉnh trong các năm 1910 1913. Chính nhờ chính sách như vậy mà hàng hóa ra vào cảng Sài gòn tăng lên nhanh chóng. Nếu như năm 1862 mới chỉ có 117 tàu châu Âu (51 tàu của Pháp) chở đến Sài gòn 53.200 tấn hàng và chở đi 42.470 tấn gạo 1.023 kiện bông 1.746 kiện vải vv. Thì đến những năm 1910 lượng hàng hóa tăng qua cảng đã tăng gấp gần 100 lần 1426 tàu ra vào cảng chuyên chở 2.544.369 tấn hàng.(8) Với tốc độ gia tăng hàng hóa như vậy Cảng Sài gòn phải được mở rộng. Công ty Eiffel ( thành lập bởi Kỹ sư Gustave Eiffel và đã xây dựng tháp Eiffel nổi tiếng năm 1889) đã trúng thầu công trình bến cảng Sài Gòn và bắt đầu làm từ năm 1901. Năm 1910 chính quyền Pháp đầu tư thêm 10 3 triệu francs tiếp tục nâng cấp cảng Sài Gòn trong đó có các hạng mục chính bến cảng 6 2 triệu francs; kho hàng 1.4 triệu đường ray 1.3 triệu và phao neo cầu quay bến tàu sông(9). Tròn một trăm năm sau (2010) các cảng Gemadept PSA Hutchison Tân cảng đã và đang mọc lên ở Cái Mép – Vũng tàu với quy mô lớn gấp hàng trăm lần ngày xưa để thay thế các bến cảng ở dọc sông Sài gòn đã hoàn thành sứ mạng lịch sử .

Trở lại câu chuyện hũ tiền

Nhìn bức tranh kinh tế Việt nam mười năm đầu thế kỷ trước các kinh tế gia thấy có rất nhiều cơ hội đầu tư và làm giàu. Nhưng những cơ hội đó chỉ giành cho giới tư bản Pháp Âu người Hoa và một số rất ít các nhà tư sản dân tộc. Còn với người dân thường đất nước loạn lạc lầm than dưới ách đô hộ dân chúng chịu sưu cao thuế nặng hết phu phen phen rồi lại chạy càn ăn còn không đủ làm sao nghĩ đến chuyện đầu tư. Trải qua mấy cuộc chiến tranh Pháp đô hộ rồi Nhật vào Pháp quay lại Mỹ xâm chiếm rồi chiến tranh biên giới Tây nam biên giới phía Bắc tâm lý lo lắng không dám làm giàu còn hằn sâu qua câu :”Ai ơi chớ vội làm giàu thằng tây nó tếch thằng Tàu nó qua”. Dân ta bao nhiêu năm qua luôn trong tâm trạng tích cốc phòng cơ chắt chiu từng đồng tiền và rất nhiều người chỉ biết cách giữ tiền bằng cách chôn như ông nội Ân. Một trăm năm sau đất nước này đã là của con dân nước Việt. Người dân có một Chính phủ vì dân bảo vệ nhân dân đảm bảo quyền làm giàu chính đáng tránh cho dân tộc khỏi họa xâm lăng. Hãy làm sao để người dân tin tưởng vào tương lai đất nước không phải đem tiền đi chôn mà bỏ ra làm giàu chấn hưng kinh tế. Làm sao để 1000 tấn vàng và 5 tỷ đô la trong dân chúng (con số mà đại biểu Quốc hội chất vấn Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Nguyễn Văn Giàu tại kỳ họp vừa qua) sẽ được đem ra làm đường mở trang trại xây nhà máy lập công ty nuôi tôm nuôi cá hoặc đầu tư gián tiếp qua thị trường chứng khoán. Ân ao ước rằng đứa cháu nội của mình sau này có thể tự hào khoe với thằng bạn Mỹ của nó rằng khoản tiền triệu đô nó đang có là do ông nội của nó bỏ 100 đô la đầu tư vào công ty của ông tại Việt nam.

Vũ Ninh. Sài gòn 12/2010

 

Tài liệu tham khảo & chú thích

(1) - trang 165 Analysis for Financial Management Robert C.Higgins NXB NewYork 2009).

(2) - Quan hệ tài chính tín dụng ngân hàng thời Pháp thuộc http://www.hochiminhcity.gov.vn

(3) (4) - Cầu Long Biên vượt qua sự ngăn cách hoài nghi và chế giễu http://kientrucvietnam.org.vn

(5) - Quá trình đâu tư và khai thác thuộc địa về cao su của tư bản Pháp ở Việt Namm (1858-1945) Nguyễn Thị Mộng Tuyền.

(6) (7) - Trang web tập đoàn than khoáng sản Việtnam http://www.vinacomin.vn/htx/Vietnamese/default.asp?Newid=5341

(8) - Hoạt động của cảng Sài Gòn trong thập niên đầu Pháp thuộc. http://www.hochiminhcity.gov.vn

(9) - Tìm lại dấu ấn Eiffel tại Việt Nam và Đông Dương www.thethaovanhoa.vn/.../tim-lai-dau-an-eiffel-tai-viet-nam-va-dong-duong.htm -

More...

Giả thuyết và giả thiết

By

SC : Khi đọc một tài liệu tôi thấy có câu: when asked what she thothought a hypothesis was one 9 year old girl said it best" An educated gues". A hypothesis result when the quetions are transformed into statements that ẽpress the relationships between variables likes an "if...then" statement.
Vì không hiểu lắm nên phải truy đến cùng Hypothesis có nghĩa là gì. Thì ra lâu nay mình vẫn hiểu sai về từ "giả thiết". Dưới đây là một bài trên Tạp chí Hoạt động Khoa Học (không rõ tác giả)

Giả thuyết và giả thiết trong nghiên cứu khoa học

More...

Ruxtki Day Dứt

By

   Tôi gặp Rong trong một chuyến đi ở StungTreng để nghiên cứu về rừng. Rong có vẻ đẹp thuần chất Khmer người thon như "Queen s Crape Myrtle" nhưng không biết tiếng Việt. Tôi thì thuần Việt và không biết tiếng Khmer. Đường rừng lúc Rong đi trước lúc lại tụt xuống sau có lúc vô tình chạm vào nhau có lúc bắt gặp Rong nhìn trộm.  

   Nghỉ ăn trưa gần suối tôi nhờ Rong dạy cách biến một chiếc khăn đội đầu thành túi dết quàng vai. Rong lúng túng trong việc đối thoại có chen thêm một số từ lạ rồi sau chuyển sang nói bằng tiếng Nga. Thì ra Rong đã có thời học ở Liên xô. Tôi cũng đã là một sinh viên giỏi tiếng Nga ở trường Đại học. Thế mà bây giờ nghe Rong nói tôi cứ như người điếc.

Hồi VN và TQ đang đánh nhau người ta không dạy tiếng của kẻ thù trong trường học. Tiếng Nga chẳng hiểu sao cũng không được dạy. Vì thế tôi tốt nghiệp cấp 3 mà không được học một giờ ngoại ngữ nào. Vào đại học tiết tiếng Nga là một cơn ác mộng. Thày Sấn một thương binh cụt tay nổi tiếng cả trường là dạy giỏi nhưng dữ dằn. Ông từng miệt thị mấy nam sinh viên bằng những câu rất tanh như: - Cậu là cái đế giày của thế kỷ; - Não anh lớn và nhiều nếp nhăn như một hạt kê; Cậu nên cẩn thận kẻo gà mổ vào đầu một cái là hết trí khôn. Sợ đến ngày những câu ấy vận vào mình nên tôi quyết tâm học bằng được thứ ngôn ngữ khó nhất nhì hành tinh này. Cuối kỳ 2 tôi đã hết sợ thày. Năm sau nữa tôi được vào team đi thi đọc thơ Puskin ở Hà nội. Năm thứ năm cả trường có 4 người được miễn thi tốt nghiệp môn tiếng Nga thì tôi cũng có mặt trong số đó. Khi làm đề án tốt nghiệp tôi đã dịch xong một cuốn sách tiếng Nga chuyên ngành. Thế mà bây giờ tôi nói không nổi mấy câu thông thường.  

Khi ngâm bài thơ "tôi yêu em đến nay chừng có thể" của Puskin tôi những tưởng tình yêu đất nước Nga các cô gái  Nga sẽ khiến tôi không thể nào quên đi tiếng Nga. Sau khi Liên xô tan vỡ giấc mộng học giỏi tiếng Nga sang đó làm việc rồi mang về bàn là tủ lạnh giấc mộng đổi đời ở Nga của tôi cũng tan vỡ theo. Thì ra khi Liên xô thất thế bàn là hoa dâu 7 rúp tủ lạnh Saratop trở thành rẻ rúng thì tình yêu tiếng Nga thơ ca văn học Nga cũng nhạt dần. Khi chán nhau người ta sẽ dần dần quên đi ngôn ngữ của tình yêu ?!.

Cuộc sống vợ chồng có lẽ cũng thế chăng? Ở với nhau lâu tình yêu nhạt đi số lần cãi vã gia tăng. Những tiếng gọi ngọt ngào anh ơi em ơi cũng thưa dần rồi biến mất.

Chán nhỉ ? làm thế nào để nói lại được ngôn ngữ ngày xưa.

More...

Xem "Avatar" Sếp nghĩ gì ?

By

MỘT VÀI SUY NGHĨ TỪ BỘ PHIM "AVATAR" - NĂNG LỰC LÃNH ĐẠO

Jessica Lu - Tổng giám đốc công ty tư vấn quản trị nhân sự Towers Watson Việt nam

Là một người mê phim ảnh bộ phim Avatar nằm trong danh sách "phải xem" của tôi. Mặc dù cốt truyện có phần đơn giản và không có gì mới nhưng do kỹ thuật hiện đại và hình ảnh sống động trong phim làm cho ai nấy đều phải thốt lên "Wow" khi xem đến những cảnh đánh nhau dữ dội hoặc những giây phút lãng mạn ngọt ngào. Bộ phim là sự phản ảnh sâu sắc chính sách đối ngoại của một số nước trong thời đại hiện nay đưa ra thông điệp rõ ràng về các vấn đề môi trường đồng thời đem lại nhận thức sâu sắc về tâm hồn.

Tôi tin rằng mọi người đều thích thú khi xem Avatar và nhận ra được giá trị của nó dưới nhiều góc cạnh khác nhau. Đối với tôi bộ phim mang lại những minh chứng về hành vi cốt lõi của một người lãnh đạo trong mỗi tổ chức.

Gần đây tôi thường hay được mời phát biểu về đề tài lãnh đạo hoặc hướng dẫn nhiều hội thảo về "Phát triển Lãnh đạo" - đề tài nóng bỏng nhất về Quản lý Nhân sự hiện nay. Tôi vẫn thường trăn trở về việc làm thế nào chuyển tải được ý nghĩa của từ "Lãnh đạo" và nêu được trọng tâm mà mọi nỗ lực cần phải dồn vào để phát triển năng lực "Lãnh đạo" thực tiễn trong một tổ chức. Sau khi xem xong phim Avatar cái nhìn của tôi trở nên rõ ràng hơn.

Jack Sully người hùng trong Avatar là điển hình của một nhà lãnh đạo trong thời hiện đại. Jack và phiên bản chứa DNA của của anh đã giúp người Na vi trên hành tinh Pandora đánh bại "đội quân của những người từ trên trời" (lực lượng Mỹ) để cứu quê hương họ. Không có gì phủ nhận được rằng Jack là nhà lãnh đạo thực sự dẫn dắt cả một cộng đồng đạt được mục tiêu chung. Xuyên suốt hành trình của anh trong cuộc phiêu lưu này tôi nhận ra được sáu năng lực tiêu biểu của một nhà lãnh đạo thành công đích thực.

1. Là một thành viên trong cộng đồng

Jack phải trải qua một quá trình rèn luyện cam go để thấu hiểu được người dân Na vi suy nghĩ hành động như thế nào để có được kỹ năng và phẩm chất của một người thợ săn mà nhờ đó anh chiếm được lòng tin và được chấp nhận là một thành viên của bộ tộc. Như vậy điều hiển nhiên ở đây là một nhà lãnh đạo phải luôn là một thành viên của cộng đồng cùng làm việc TRONG cộng đồng đó tạo ra những giá trị từ công việc của mình để có lòng tin của mọi người. Một nhà lãnh đạo chân chính không Ở TRÊN cộng đồng nhờ vào quyền lực mình có.

2. Làm việc để đạt được mục tiêu chung không phải vì lợi ích cá nhân

Jack liều mình nhiều lần để chiến đấu kiên cường cho bộ tộc Na vi. Mục tiêu của anh luôn luôn là bảo vệ công đồng mà không màng đến lợi ích riêng tư. Nếu một người dẫn dắt người khác hướng đến việc phục vụ cho bản thân mình thì đó chỉ là thao túng. Ngược lại làm việc vì mục tiêu chung của cộng đồng sẽ giữ vững được tinh thần vì cộng đồng ngay cả trong khủng hoảng hay nguy biến.

3. Gặt hái sự tín nhiệm qua việc thực thi được nhiệm vụ với thành quả phi thường

Trong nguy biến con đường duy nhất để Jack có thể lôi cuốn được sự chú ý được người dân Na vi tôn trọng và đặt niềm tin vào anh là việc cưỡi con chim Totuk khổng lồ. Đây là điều không ai khác trong bộ tôc này làm được. Điều này chứng tỏ không phải là chức vụ kèm theo quyền lực tạo nên được sự tín nhiệm mà chính những công việc người lãnh đạo thực hiện được mọi người chứng kiến sẽ làm cho họ tin theo.

4. Diễn đạt và thuyết phục

Jack không những thuyết phục được người Na vi qua những lời đầy cảm hứng của anh để họ thêm can đảm tự tin chiến đấu chống lại kẻ thù anh còn mở đường cho sự hợp lực của nhiều thị tộc trong cuộc chiến đấu đó. Hiển nhiên một nhà lãnh đạo cần phải diễn đạt được tầm nhìn và quyền lợi rồi trình bày chúng theo một cách thật mạnh mẽ để thuyết phục người nghe sẵn sàng hành động.

5. Suy nghĩ theo chiến lược hợp lý

Jack hiếu thấu đáo mọi tình huống nhờ vào vai trò bên trong lực lượng quân đội của anh. Điều này cho phép anh thấy được toàn cảnh và suy nghĩ theo một chiến lược hợp lý do đó anh có thể tự tin dẫn dắt người Na vi chuẩn bị cho cuộc chiến tranh tự vệ của họ. Trong tình huống hoạt động của một tổ chức ngày nay nhà lãnh đạo cần chứng tỏ được khả năng nắm giữ những thông tin trí tuệ được cập nhật của mình và chiến lược sử dụng chúng đầy sáng tạo ra sao. Một nhà lãnh đạo cũng phải là một "người đọc" thường xuyên.

6. Thông tin và tiếp nhận thông tin một cách thường xuyên

Nhờ có kỹ thuật hiện đại của con người Jack có thể sử dụng được nhiều thiết bị truyền thông để trao đổi với nhiều nhân vật chủ chốt trong đội ngũ của anh suốt quá trình chiến đấu. Anh cũng phân công hướng dẫn một số nhiệm vụ cũng như đưa ra cảnh báo và khuyến khích tùy theo tình huống. Việc này chứng tỏ thông tin liên lạc thường xuyên là một công cụ rất hữu ích cho người lãnh đạo trong mọi tình huống.

Bộ phim Avatar đã chứng tỏ được rằng Lãnh đạo không phải là điều gì mơ hồ. Sự lãnh đạo mang tính thực tiễn và khả năng lãnh đạo có thể phát triển được khi đặt trọng tâm vào sáu hành vi nêu trên. Những nhà lãnh đạo hiện nay cần chứng tỏ tốt sáu khả năng trên để đạt được lòng tin kính trọng và trung thành của những người theo họ và nhờ vậy họ xây dựng được một đội ngũ lấy kết quả công việc làm trọng tâm.

Tôi thật sự tin rằng với trọng tâm như thế tổ chức của bạn có thể xác định và phát triển Jack cho tổ chức của mình và bản thân bạn cũng có thể là Jack!

Inspiration from the Movie "Avatar" - Leadership Competencies

By Jessica Lu Managing Consultant Towers Watson Vietnam

Being a movie admirer "Avatar" was definitely on my must-see list. Although this rather simple story is not new it reveals some of the most advanced movie-making techniques and lively animations to "wow" everyone visually through exhilarating battle scenes as well as those romantic moments. The movie is a deep reflection of the international affairs policies of several countries in our modern time; sends clear messages on environmental issues; and provides an insight over spiritual comprehension.

I believe everyone enjoyed "Avatar" and realized its value through their favorite angle. For me it inspired me through most evident behavioral examples which I have always believed to be every organizational leader s essence. Recently I was invited to provide a number of leadership key-notes and delivered several workshops on "Leadership Development" - the hottest Human Resources Management topic. Since then my mind has been dwelling on how to articulate "Leadership" and where to focus our effort to develop the competencies that demonstrates practical "Leadership" in organizations. After watching "Avatar" I have now got a clear vision! "Avatar" portrays a role model for today s leader through its hero Jack Sully. He and his "DNA copied alien body" helped "Na vi" in the "Pandora" planet by defeating the "sky people s army" (American human force) and saved their homeland. No doubt he is a true leader who led the entire community to achieve a common goal! Through his journey I recognized the following six competencies which successful true leaders demonstrate today:
1. Be a member of the team Jack had to go through all the vigorous training and hardship to learn how the Na vi think behave and qualify as a hunter himself in order to win their trust and become a member of their community. Therefore it s evident that a leader must be a team member work together WITHIN the team create value from his work to win trust from his people and not ABOVE the team showing off authority and power.
 2. Work towards the team s goal not self benefits Jack risked his life many times to fight fearlessly for the Na vi. His goal was always to protect the community without any self-interest. It would be manipulative if one leads others working for self-interest only. On the other side working for team goals would always keep the team spirit and morale high even during crisis.
 3. Win credit by extra-ordinary performance In the crisis the only way Jack could have won attention respect and trust from the Na vi was by riding the giant bird - Toruk which was impossible for anyone else in the community. He did it! It goes to show that it s not the position which gives you power it s the outstanding performance that people eyewitness makes people follow leaders.

4. Articulate and persuade Not only Jack made an inspirational speech to persuade the Na vi and provoked their courage to fight back with confidence; he was also on the road to many other clans convincing them to join force for this final battle. Clearly a leader needs to articulate the vision & benefits meanwhile present it in a powerful way to draw will and enthusiastic action from others.

5. Think strategically Jack knew the situation very well through gaining insiders knowledge which enabled him to see the big picture and think strategically thereby directing the Na vi confidently to prepare for their defense. In today s organizational operations a leader is expected to be equipped with up-to-date knowledge the ability to innovate and knowing how to utilize these. A leader has to be a consistent reader as well!
 6. Communicate consistently

With the advantage of human technology Jack was able to use communication devices with several key team members throughout the entire battle. He also delegated certain tactical executions and gave warnings and encouragements periodically. This shows consistent communication as a powerful tool for leaders in all situations.

"Avatar" has reassured us that Leadership is not vague; it is highly practical and can be developed by focusing on competencies such as the above six. Today s leaders must demonstrate these competencies well to earn the followers trust respect and loyalty thereby developing a result-oriented team. I believe with this focus your organization can develop your defined Jack and you can be like Jack too!

Towers Watson is a leading global professional services company that helps organizations improve performance through effective people risk and financial management. With 14 000 associates around the world we offer solutions in the areas of employee benefits talent management rewards and risk and capital management. Copyright © 2010 Towers Watson. All rights reserved. Towers Watson | Suite 808 8th Floor Sunwah Tower 115 Nguyen Hue Blvd. Dist.1 Ho Chi Minh City VietNam. Tel: (08) 3821 9488

More...

Điều tra vui

By

 

Điều tra vui

Ít ngày nữa chúng tôi sẽ đưa vào sử dụng phiên bản mới nhất của phần mềm đặc biệt SPSS. Nếu bạn tham gia vào cuộc khảo sát này chúng tôi sẽ nói rõ bạn phù hợp công việc nào cuộc sống gia đình ra sao có thể trở thành sếp nhớn hay chỉ làng nhàng...vân vân và vân vân.


Tình huống : Vợ phát hiện ra một
đôi dép nữ lạ trong cốp xe của chồng. Hãy cho chúng tôi biết bạn chọn kiểu suy nghĩ thế nào và phản ứng ban đầu của bạn ra sao (chọn 1-2-3-4). Nếu bạn có suy nghĩ khác hãy chia sẻ với nhóm khảo sát chúng tôi.

1- Suy nghĩ tiêu cực:  

Cơn ghen lập tức bùng phát những lời lẽ rất  thông dụng sẽ vọt ra:  Giày dép con nào đây ? hôm qua y đi đâu với ai ? làm gì trong xe mà để lại vật chứng  thế này?

2- Suy nghĩ tích cực:

Chồng mình là người hào hiệp sống có trách nhiệm. Có thể hôm qua ổng gặp người bị tai nạn giao thông. Anh ấy chở cô nào đó vào bệnh viện cấp cứu. Vội vàng nên để lại giày trong xe.

3- Suy nghĩ lãng mạn:

Xưa kia  cô Tấm cuỡi ngựa trên đường đi trẩy hội. Đi qua vũng lầy Tấm đánh rơi chiếc hài. Hoàng tử đi ngang qua thấy chiếc hài xinh xắn bèn lượm về tổ chức thi ướm hài rồi cuối cùng tìm được cô Tấm xinh đẹp.

Hôm qua chắc chồng mình cũng đi vi hành đâu đó nhặt được đôi dép đẹp. Chắc ổng phỏng đoán rằng dép đẹp thế này chắc hẳn chủ nhân phải có bàn chân thon cặp chân dài; chân dài  thì  tất phải ngon lành cành đào. Có thể ổng bắt chước Hoàng tử lượm về và tổ chức cuộc thi tuyển dụng thư ký đây mà

4- Suy nghĩ cẩn trọng: 

Ai mà chẳng ghen tuông nghi ngờ tuy nhiên người cẩn trọng sẽ lập tức lấy lại bình tĩnh để suy xét.  Họ có thể không vội vàng kết luận phán xét một điều gì ngay.

Có thể họ đã từng đọc câu chuyện nồi cơm của Khổng Tử :

Thời Đông Chu bên Tàu chiến tranh liên miên các nước chư hầu loạn lạc dân chúng phiêu bạt điêu linh lầm than đói khổ ... Thầy trò Khổng Tử trên đường từ Lỗ sang Tề cũng lâm vào cảnh rau cháo cầm hơi và có nhiều ngày phải nhịn đói nhịn khát. Tuy vậy không một ai kêu than thoái chí; tất cả đều quyết tâm theo thầy đến cùng. May mắn thay ngày đầu tiên đến đất Tề có một nhà hào phú từ lâu đã nghe danh Khổng Tử nên đem biếu thầy trò một ít gạo. Khổng Tử liền phân công Tử Lộ dẫn các môn sinh vào rừng kiếm rau còn Nhan Hồi thì đảm nhận việc thổi cơm.

Sau khi Tử Lộ dẫn các môn sinh vào rừng kiếm rau Nhan Hồi thổi cơm ở nhà bếp Khổng Tử nằm đọc sách ở nhà trên đối diện với nhà bếp cách một cái sân nhỏ.  Đang đọc sách bỗng nghe một tiếng "cộp" từ nhà bếp vọng lên Khổng Tử ngừng đọc liếc mắt nhìn xuống thì thấy Nhan Hồi từ từ mở vung lấy đũa xới cơm cho vào tay và nắm lại từng nắm nhỏ ... Xong Nhan Hồi đậy vung lại liếc mắt nhìn chung quanh ... rồi từ từ đưa cơm lên miệng ...


Hành động của Nhan Hồi không lọt qua đôi mắt của người thầy. Khổng Tử thở dài ngửa mặt lên trời mà than rằng: "Chao ôi! Học trò giỏi nhất của ta mà lại đi ăn vụng thầy vụng bạn đốn mạt như thế này ư? Bao nhiêu kỳ vọng ta đặt vào nó thế là tan thành mây khói!"

Sau đó Tử Lộ cùng các môn sinh khác mang rau về. Nhan Hồi lại luộc rau. Khổng Tử vẫn nằm im đau khổ ...


Một lát sau rau chín. Nhan Hồi và Tử Lộ dọn cơm lên nhà trên; tất cả các môn sinh chắp tay mời Khổng Tử xơi cơm.

Khổng Tử ngồi dậy và nói rằng: "Các con ơi! Chúng ta đi từ đất Lỗ sang Tề đường xa vạn dặm thầy rất mừng vì trong hoàn cảnh loạn lạc dãi nắng dầm mưa đói khổ như thế này mà các con vẫn giữ được tấm lòng trong sạch các con vẫn yêu thương đùm bọc nhau các con vẫn một dạ theo thầy trải qua bao nhiêu chặng đường đói cơm khát nước ...


Hôm nay ngày đầu tiên đến đất Tề may mắn làm sao thầy trò ta lại có được bữa cơm. Bữa com đầu tiên trên đất Tề làm thầy chạnh lòng nhớ đến quê hương nước Lỗ! Thầy nhớ đến cha mẹ thầy... cho nên thầy muốn xới một bát cơm để cúng cha mẹ các con bảo có nên chăng?


Trừ Nhan Hồi đứng im còn các môn sinh đều chắp tay thưa: "Dạ thưa thầy nên ạ!"

Khổng Tử lại nói: "Nhưng không biết nồi cơm này có sạch hay không?"

Tất cả học trò không rõ ý Khổng Tử muốn nói gì nên ngơ ngác nhìn nhau. Lúc bấy giờ Nhan Hồi liền chắp tay thưa: "Dạ thưa thầy nồi cơm này không được sạch."

Khổng Tử hỏi: "Tại sao?"

Nhan Hồi thưa: "Khi cơm chín con mở vung ra xem thử cơm đã chín đều chưa chẳng may một cơn gió tràn vào bồ hóng và bụi trên nhà rơi xuống làm bẩn cả nồi cơm. Con đã nhanh tay đậy vung lại nhưng không kịp. Sau đó con liền xới lớp cơm bẩn ra định vứt đi ... nhưng lại nghĩ: cơm thì ít anh em lại đông nếu bỏ lớp cơm bẩn này thì vô hình trung làm mất một phần ăn anh em hẳn phải ăn ít lại. Vì thế cho nên con đã mạn phép thầy và tất cả anh em ăn trước phần cơm bẩn ấy còn phần cơm sạch để dâng thầy và tất cả anh em...
Thưa thầy như vậy là hôm nay con đã ăn cơm rồi ... bây giờ con xin phép không ăn cơm nữa con chỉ ăn phần rau. Thưa thầy nồi cơm đã ăn trước thì không nên cúng nữa ạ!

Nghe Nhan Hồi nói xong Khổng Tử ngửa mặt lên trời mà than rằng: "Chao ôi! Thế ra trên đời này có những việc chính mắt mình trông thấy rành rành mà vẫn không hiểu được đúng sự thật! Suýt tí nữa là Khổng Tử này trở thành kẻ hồ đồ!"

More...

Bằng lăng

By

  Tình hình rất là gay go. Từ hôm ở Thác Mai về hắn như người mất hồn.

Chả là sau khi hoàn thành tiểu dự án số 3 bọn hắn quyết định một ngày không laptop không email và học đòi theo cụ Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm:

Ta dại ta tìm nơi vắng vẻ
Người khôn người đến chốn lao xao

.....

Rượu đến gốc cây ta sẽ uống
Nhìn xem phú quý tựa chiêm bao

Rời phố xá ồn ào chen chúc cả bọn leo lên chiếc xe đò trực chỉ hướng Định Quán. Thời buổi xe tốc hành đi các tỉnh toàn loại xịn có máy lạnh video có khăn lau mặt thế mà ở cái tuyến này vẫn dùng chiếc xe cũ kỹ từ thời 70 còn sót lại. Vé rẻ nên chủ xe nhét người như nhét heo chốc chốc lại dừng lại bắt khách y chang trong phim thời bao cấp. Mùi người mùi xăng từ chiếc uây tàu để cuối xe làm hắn muốn xỉu. Đã thế khi biết bọn hắn đi thác Mai mấy người trên xe bĩu môi: đi vào đó làm gì ? ở đó hoang vắng đầy người chết đuối; đi chuyến muộn thế này thì làm sao kiếm được xe ôm vào rừng mấy cô chú tính ngủ đêm trong rừng hay sao ? Nghe vậy  hắn thấy hoang mang.

 Thoát khỏi Dầu Dây xe ỳ ạch lết mãi mới tới cầu La Ngà. Nhìn xuống thấy lòng sông trơ đáy bè cá nằm chơ vơ trên cỏ mùa mưa vẫn còn mà nước sông đi đâu hết mất rồi ? Xe đò chạy thêm chục cây nữa thì dừng lại lão tài gắt gỏng giục: xuống đi  tới lối rẽ vào rừng rồi. Vượt thêm 3 chục cây số đường rừng hun hút cây xếp hàng như vệ binh có chỗ ba bốn tầng rừng ken dày như tấm lưới có chỗ cây đổ choán lối đi có nơi cảnh đẹp chẳng khác gì trong phim Avatar rồi bọn hắn cũng vào đến thác.

    Hạ trại xong cả bọn kéo nhau lên nhánh suối phía thượng nguồn thác. Suối nông cát mịn phủ quanh chân hàng chục vồng đá hình lưng con voi nằm rải rác dọc suối. Chuyện xưa kể rằng có đàn voi đi ngang qua thác nước này chẳng may con đầu đàn kẹt chân vào khe đá dưới lòng suối không nhấc chân lên được. Cả đàn không nỡ bỏ con voi đầu đàn nên cùng nằm phủ phục xuống rồi chết. Trời cảm động trước sự thuỷ chung sống chết có nhau của bầy voi nên hoá chúng thành đá. Nước suối mùa mưa hơi đục nhưng sạch không rác không mùi. Đang té nước hò hét dưới suối chợt hắn thấy có ai giống giống một em trong nhóm đang ngồi bó gối trên lưng voi đá phía xa xa. Nghĩ là em này giận hờn ai đó tách riêng ra một chỗ nên hắn tính leo lên lôi cổ xuống chơi chung cho vui. Nhưng đến gần thì chẳng thấy cô nào cả. Hắn còn ngẩn ngơ không biết em này biến đi đâu mà nhanh thế thì thấy mấy người dân chạy rầm rập mang theo dây thừng và phao. Nghe loáng thoáng họ đi cứu cô gái nào đó tắm gần đỉnh thác bị và nước cuốn đi. Thì ra mấy ông trên xe đò nói đúng. Thác nuớc này đã có nhiều người bị thác cuốn trôi chết đuối. Hắn rùng mình không biết có phải cô gái trên lưng voi đá lúc nãy kia có phải là một cô gái xấu số nào đó hay không.

            Trời nhập nhoạng mọi người đốt củi nướng gà châm nước vào ché rượu cần. Tối ấy  nam thì trút bỏ hết vẻ đạo mạo trí thức doanh nhân nữ thì vứt đi vẻ sành điệu thị thành hoặc tiểu thư khuê các để trở về cội rễ loài người. Không điện chỉ có ánh lửa từ đống củi lúc mờ lúc sáng làm da ai cũng ánh lên màu đồng kỳ ảo. Đàn ông văn phòng lúc đi làm thường chả dám nói bậy nhiều chẳng có dịp nào cấu véo đàn bà con gái. Giờ có tí lửa có tí rượu bọn hắn hết hẳn e dè. Tiều phu nắm tay sơn nữ nhảy muá uống và hát đến khản cả gọng.

Nửa đêm chưa hết cơn say mọi người lại kéo nhau ra bờ thác. Nhạc nước nhạc đàn nhạc lòng làm hắn bạo dạn hơn rồi cũng hoà vào điệu vũ rừng xanh với bạn bè. Quá giờ Tý cuộc vui mới tạm tàn. Mọi người kéo nhau từ suối về lán. Băng qua khoảng rừng tối 7 tay trong đoàn trở thành cây gậy chống của các sơn nữ. Hắn vẫn thường tự phụ mình ít khi bị phụ nữ chi phối thế mà lúc dắt tay một sơn nữ qua cầu hắn cứ lóng nga lóng ngóng như bọn trai trẻ mới dậy thì lần đầu chạm phải ngực con gái. Gần về đến lán hắn nhặt được mấy miếng nấm rừng sáng như lân tinh và để vào túi ngực.

 Đêm đó đoàn hắn ngủ tại lán trong rừng. Hai chái nhà có chỗ giăng mùng thì dành cho mấy em say rượu đi ngủ trước số còn trụ được thì ngồi ngay giữa nhà đàn hát rồi lăn ra ngủ lúc nào chẳng hay. Hắn có cái tật uống say thì không thể ngủ được loay hoay mãi hắn cũng bò được xuống ngồi chơi với đống lửa. Đêm đặc quánh thời gian lăn đi chậm chạp và lóc cóc như bánh xe bò trong rừng. Hắn lai rai uống cho đến lúc thấy người gai lạnh. Lúc đầu hắn không biết là mưa nghe rào rào cứ tưởng là tiếng thác nước thôi. Mãi khi có những giọt nước lọt qua tán lá rơi trúng mặt hắn mới biết là đã gặp mưa rừng.

Đống lửa lúc tối giờ chỉ còn là đống than đỏ rực. Mỗi lần mưa rơi xuống than lại bùng cháy thêm và tóe tàn ra xung quanh.  Mỗi lần chớp lóe lên hắn lại nhìn thấy ảo ảnh còn lưu lại từ mấy tiếng trước. Hắn thấy rõ 9 sơn nữ đang  rót rượu vào miệng các chàng tiều phu. Thấy có nàng vũ nữ apsara đang uốn người theo ngọn lửa. Thấy cả đoàn trai gái người rồng rắn quanh đống lửa. Mưa to hơn nước suối dềnh lên tận gốc cây. Những đốm sáng cuối cùng của đống than cũng đã biến mất. Khu rừng rơi vào đêm đen tuyệt đối. Hắn sợ. Chợt nhớ ra trong túi ngực có miếng nấm lân tinh hắn tính móc ra soi xuống sàn xem còn chỗ trống nào không để nằm xuống ngủ. Nhưng vừa cho tay vào túi áo chạm phải miếng nấm hắn tự nhiên thấy mình thấy mê đi.

Trong cơn mê hắn cảm thấy rõ cảm giác đang từ từ dựa người vào một gốc cây bằng lăng.  Hồi hay đi rừng ở K hắn thich chọn chỗ có cây bằng lăng để giở cơm ra ăn. Trong rừng bằng lăng là loài cây đẹp nhất. Người ta ví bằng lăng như một cô gái. Cây to trong rừng vỏ thường đen xù sì và thô ráp chỉ riêng có bằng lăng là mịn màng trắng và trơn nhẵn. Hắn khoái dựa lưng vào những khe lõm của thân cây rồi ngửa mặt lên ngắm mảng màu hoa tím tím trên đỉnh đầu đến lúc buồn ngủ. Nhưng đêm nay cây bằng lăng mà hắn đang dựa vào có cái gì khang khác. Vỏ cây không phải là lớp biểu bì lạnh lạnh mà hình như nó có xúc cảm nó run rẩy lúc lạnh giá lúc ấm lên như làn da con gái. Tựa vào cây một lúc hắn thiếp đi trượt xuống rồi gối đầu lên chùm rễ cây ngủ ngon lành. Hắn vừa ngủ  vừa gặm rễ cây cảm thấy vị tê chát nơi đầu lưỡi.

Giữa đêm đen bốn bề chỉ nghe có mưa và tiếng thác đổ ào ào. Hình như hắn đã chạm vào mạch sống của rừng đang ôm bằng lăng đang nhấm từng chùm rễ tay mơn man vỏ cây nếm từng chút hương hoa. Tự nhiên tai hắn nghe thấy rõ mồn một tiếng ve sầu đồng loạt cất  tiếng trong đêm người nhẹ bỗng rồi mê đi như bị thác nước hất lên....

Một cơn gió mạnh tạt nước trời vào lán. Hắn bừng tỉnh giấc. Miếng nấm lân tinh trong túi ngực cũng không còn phát sáng nữa. Cảm giác kỳ lạ mà hắn gặp dưới gốc bằng lăng biến mất không biết là thật hay ảo. Chỉ biết rằng hôm sau hắn phát hiện ra ngực mình có cái gì lạ lạ. Làn da dưới túi áo đựng mấy miếng nấm vẫn còn phát sáng lờ mờ.

Dạo này hắn hay mơ thấy cây bằng lăng.

More...

Cường Ơrô làm Maketing

By

Cường Ơrô (chứ không phải Cường Đô la) đang du hí ở nước ngoài thì nhận được lệnh về nước gấp. Chả ông tỷ phú X người 40 năm trước góp phần chính vào sự có mặt của hắn trên đời này đã có một quyết định quan trọng. Trước đây ổng nào có thèm để ý gì đến hắn quanh năm suốt tháng chỉ tiền tiền tiền làm làm làm và luôn mồm giục học học và học. Ồng cho Cường Ơrô ra nước ngoài học và cũng chẳng cần biết hắn học hành ra sao chỉ yêu cầu đến tháng 8 năm 2010 thì phải về nước. Về nước hôm trước hôm sau ổng cho họp gia đình và quyết định cái rụp không thèm hỏi han ý kiến ai cả:

-       Từ hôm nay tôi giao công việc giám đốc Maketing cho anh Cường Ơrô. Trong vòng một năm anh phải tăng cho tôi gấp đôi doanh số bán hàng.

Chết man !  hắm đã làm maketing hay bán hàng bao giờ mà dám làm CMO. Hồi học môn Maketing thì cũng là tháng có World Cup. Tiền rủng rỉnh ông già không quản nên lúc vòng loại hắn trốn sang Amstecdam uống bia và chẳng bỏ trận nào. Vòng hai thì ở Beclin. Tới lượt bán kết thì do sợ dân Đức nướng bạch tuộc Paul nướng luôn cả hắn nên quay về Bỉ xem. Chữ về Marketing chẳng có mẩu nào lọt vào đầu. Giờ biết tính sao ?

Bí quá hoá liều. Ỷ thế ông già tỷ phú hắn bèn bốc máy nhờ vả giáo sư marketing hàng đầu thế giới - Ngài Philip Kotler.

Nghe Cường bán than Philip Kotler mắng hắn xa xả:

- Anh lười quá ! không chịu học đọc sách gì cả. Tôi có 1 cuốn sách quý viết rõ ràng chương hồi đàng hoàng rõ ràng bằng mấy lần Tam quốc nữa kia. Nể chỗ bố anh là ông X nay tôi cho anh 5 ngày để đọc. Trong vòng 1 tuần nữa tôi sẽ cử Giáo sư Larry đến kiểm tra anh nhận thức đến đâu. Nếu anh không năm được thì tôi sẽ loan cho  cả thế giới này biết rằng: Tập đoàn X có một tay giám đốc Marketing dốt nhất trên đời.  Anh biết đấy tin này lộ ra thì hậu quả thế nào rồi đấy.


17 tiếng sau   nhân viên bưu điện trao cho Cường cuốn sách tựa đề Marketing Management vừa được chở bằng chuyên cơ từ Mỹ sang.
Cường đọc xong và lược thuật ra 22 buớc để có thể đặt mông lên cái ghế  giám đốc Marketing (CMO). Chưa rõ kế sách này đúng hay sai nên hắn nhờ tôi pót  lên đây để bạn bè góp ý




Sống Chậm

More...

Calvados

By

Lúc chia tay vợ chồng dượng Năm dúi vào tay tôi mấy quả táo và chai rượu Calvados. Táo thì tôi đã xơi tái trên chuyến xe từ Paris về Bỉ. Còn chai rượu tôi quên khấy đi mất đến gần ngày giỗ bà nội mới bỏ ra.

Bà nội tôi có một người em gái thường đi buôn từ Hải phòng vào Sài gòn. Chả là hồi cách mạng dân chủ ở Pháp nổi lên dân thuộc địa ở xứ Đông dương dễ thở hơn. Tuy rằng Annam thời ấy vẫn bị chia làm ba kỳ coi như 3 nước riêng đi lại giữa các kỳ phải có giấy thông hành nhưng những năm 36-39 dân xứ ta ra Bắc vào Nam dễ dàng lắm. Đến khi chính quyền dân chủ ở Pháp thất thế chính quyền ở thuộc địa quay lại đàn áp dân chủ các chuyến tàu hỏa nối hai miền bị cắt đứt. Trong một lần vào Nam bà không quay lại nữa. Chiến tranh cách trở bà nội tôi mất liên lạc với người em gái. 35 năm sau khi đất nước thống nhất gia đình tôi mới nhận được tin bà còn sống và có mấy người con. Cô Năm là con gái của bà. Sau  năm 1975  cô và dượng sang định cư ở Pháp.


 Lại thêm ba lăm năm sau nữa tôi mới có dịp tới châu Âu. Tôi tự nhủ mình phải đến tận nhà thăm vợ chồng dượng ở vùng Normandy. Từ thành phố Antwerp đến Paris nếu đi tàu cao tốc thì mất 195 € (Euro) tôi chọn xe bus xuyên châu âu của hãng Eurolines vì thời gian có nhiều hơn tàu cao tốc 3 tiếng nhưng chỉ tốn có 5 chục €. Từ Antwerp xe chạy qua thủ đô Brusell của Bỉ rồi băng qua biên giới Pháp lúc nào tôi cũng chẳng hay. Xe tới ngoại ô Paris thì đã 11h30 đêm. Đêm thì khuya đường tới vùng Normandie thì dài  mà đêm Paris thì vô cùng quyến rũ.


 Hồi còn trẻ con tôi đã từng nhắm mắt để chu du Paris và nước Pháp cùng 3 chàng ngự lâm quân mới đây tôi lại cùng ngài Rober Langdon phiêu lưu tới đó trong bộ phim Thiên thần và Ác quỷ.  Bây giờ đã đặt chân lên kinh đô ánh sáng làm sao có thể nhanh chóng quay đi. Tôi hòa vào café đêm se lạnh ở gần cung điện Luvre rồi chìm vào đêm náo nhiệt với thanh niên ở khu vực công viên chân tháp Effel cho tới tận sáng để ngắm mặt trời lên trên sông Xen. Vợ chồng dượng biết rằng tôi khó lòng cưỡng lại sự hấp dẫn của Paris nên chiều thằng cháu bằng cách phóng xe lên Paris vào sáng hôm sau. Thế là đành lỡ hẹn với Normandy.


Bữa nay mân mê chai Calvados và đọc những dòng giới thiệu về nó tôi vừa phục sự tinh tế của dượng vừa tự trách mình hời hợt với vùng đất này. Trước đây tôi chỉ biết Normandie là vùng đất lịch sử là nơi có cuộc đổ bộ lớn nhất lịch sử quân sự thế giới  mở đầu cuộc tấn công chọc thủng tuyến phòng ngự của Đức quốc xã ở châu Âu. Tôi đâu biết đó là vùng đất của táo và rượu Calvados. Độ ba chục năm trước ở Việt nam rượu Tây thuộc hàng quý hiếm. Thỉnh thoảng người ta khoe nhau hôm qua được uống Naponeong ở nhà ông ấy bà nọ với vẻ hãnh diện lắm. Còn bây giờ rượu ngoại đủ loại sang trọng đắt tiền tôi cũng đều đã nếm qua. Vì thế tôi cũng hơi hờ hững với chai rượu của dượng cho mà không biết đó là sản vật của một vùng đất Normandie.


  Trong thực đơn hàng ngày nhiều người thích sau bữa ăn có một trái Táo. Nhưng dượng tôi nói như vậy chưa đủ với người Pháp. Người ta thích ăn táo đó dưới dạng chất lỏng bằng cách làm một ly Calvados sau mỗi bữa ăn. Vẻ vàng sóng sánh độ đậm đặc tới 40 độ và mùi hương táo nồng nàn không chỉ tốt cho cái bao tử ta sau mỗi bữa ăn quá nhiều chất đạm mà còn quyến rũ ta hơn cả những thiếu nữ Pháp phơi mình trần dưới nắng.


  Tôi đã ăn những quả táo tuyệt ngon trồng trong vườn nhà dượng tại chính vùng đất Normandi.  Táo là trụ cột kinh tế và biểu tượng của văn hóa của vùng Normandie tựa như cây tre với các làng quê Việt nam. Chín triệu cây táo mọc trên những thảm cỏ xanh rì hút nước và khí trời tự do tạo thành những đám mây hoa táo màu hồng.  Muà thu táo chín. Mùi hương của triệu triệu trái táo chín sẽ được thu vào lồ ô biến hoá cùng trái táo để tạo thành hơn 10 triệu chai Calvados.


Những tài liệu xưa cho biết rượu brandy từ trái táo đã được làm ra ở vùng đất này từ năm  1553. Hai trăm năm sau một con tầu thuộc hạm đội Tây Ban Nha bị đắm khi đâm phải tảng đá trên bờ biển của một ngôi làng chuyên trồng táo và nấu rượu ở vùng Normandie. Con tàu có tên là "El Calvados" và cư dân trong làng đã chọn tên con tàu đó cho loại rượu táo của mình. Từ đó rượu Calvados phổ biến và dần dần nổi danh khắp châu Âu đến mức Anh quốc đã phải tìm cách ngăn chặn làn sóng rượu brandy táo từ nước Pháp.


Chai rượu Calvados không chỉ đơn thuần là một loại đồ uống với tôi đó còn là một món quà văn hoá từ nước Pháp Tự do- Bình đẳng - Bác ái.


  

 



More...

Giám đốc - Xưa và Nay

By

 

Giám đốc doanh nghiệp

Sự thay đổi ngoạn mục trong vòng 30 năm qua

Người ta có thể kể ra rất nhiều thay đổi về kinh tế Việt nam trong vòng 30 năm qua tính từ 1980 đến 2010 nhưng tôi cho rằng sự thay đổi ngoạn mục nhất đó chính là quá trình đổi ngôi của giám đốc. Đó không chỉ là sự thay đổi bề ngoài mà nó là biểu hiện của sự thay đổi căn bản: Việt nam đã coi trọng hơn tầng lớp doanh nhân. Ba chục năm qua sự xếp hạng SỸ - NÔNG - CÔNG - THƯƠNG đã bị phá vỡ và thay bằng một trật tự mới.

Bài viết dưới đây cố gắng diễn tả lại phần nào sự thay đổi lớn vai trò của giám đốc doanh nghiệp. Đây cũng là một phần bài nghiên cứu của Sống Chậm viết bằng tiếng Anh nay lược ghi lại để chia sẻ với các ACE.

  Mô hình quản lý cổ điển của một xí nghiệp quốc doanh cách đây 30 năm

Mấy chục năm trước nếu một thường gia phương Tây sang thăm một xí nghiệp Việt nam ông ta chắc hẳn thấy rất nhiều điều lạ lùng so với đất nước họ. Nếu như ở Mỹ hay Châu Âu Giám đốc là người có quyến lực mạnh nhất trong việc điều hành sản xuất kinh doanh thì ở Việt nam lúc đó hoàn toàn không phải. Giám đốc không phải là người là được  toàn quyền quyết định. Tất cả mọi việc từ sản xuất kinh doanh thực hiện kế hoạch đều do một nhóm 4 người gọi là bộ tứ quyết định. 

Tại sao lại phải có 4 người quyết định một vấn đề ? những nhà nghiên cứu về lý thuyết tổ chúc đã có lúc lầm lẫn rằng thời kỳ đó Việt Nam thời đó áp dụng mô hình tổ chức dạng phẳng (Flat organization) hoặc Việt Nam học mô hình quản lý của Nhật.

Khoảng đầu thập niên 90 tôi từ miền Bắc XHCN vào miền Nam để làm việc cho tập đoàn Kawasaki Nhật Bản. Tôi đã vô cùng ngạc nhiên khi đọc cuốn báo cáo thường niên (annual report) của họ. Trong đó tôi thấy có tới 23 ông phó chủ tịch tập đoàn. Tôi không thể lý giải nổi tại sao lại có nhiều lãnh đạo đến thế.

Tương tự vậy một ông giám đốc người Mỹ cũng không thể hiểu nổi tại sao khi muốn kỷ luật một ông quản đốc phân xưởng vi phạm kỷ luật lại phải có một phiên họp gồm Bí thư Đảng Uỷ Chủ tịch Công đoàn Bí thư Đoàn thanh niên bàn lên bàn xuống hàng chục phiên nhưng cuối cùng cũng không thể sa thải một nhân viên mắc sai phạm.

Trở lại câu chuyện lãnh đạo ở một công ty ở Việt nam 30 năm trước. Đây hoàn toàn không phải là câu chuyện về kiểu tổ chức Nhật bản hay cơ chế dàn hàng ngang (flat structure)  mà đó là câu chuyện của nền kinh tế kế hoạch và vấn đề sở hữu và sự lãnh đạo của Đảng cộng sản.

Chúng ta đã biết cách thức tổ chức 1 công ty phụ thuộc hoàn toàn vào việc ai là chủ và mục tiêu của doanh nghiệp đó là gì. Ở Việt nam thời kỳ đó 100% Xí nghiệp công ty là các tổ chức kinh tế do nhà nước đầu tư vốn thành lập và tổ chức quản lý hoạt động kinh doanh hoặc hoạt động công ích nhằm thực hiện mục tiêu kinh tế xã hội do nhà nước giao.  Đặc điểm thời chiến khiến  Đảng Cộng sản Việt nam lãnh phải lãnh đạo toàn diện. Điều đó cũng có nghĩa là tất cả các công ty Bắc Việt  nam đều có tổ chức đảng. Người cao nhất của tổ chức đảng trong công ty có quyền lực rất lớn. Các quyết định của giám đốc đều phải tuân thủ các nghị quyết của đảng uỷ phải được mang ra bàn bạc trong bộ tứ.

Bí thư Đảng uỷ

Bí thư là người quan trọng nhất trong một xí nghiệp quốc doanh. Có thể so sánh ông ta với Chủ tịch hội đồng quản trị ngày nay. Trong một xí nghiệp công ty nhà nước tổ chức đảng được hình thành theo một hệ thống từ trên xuống tận các phân xưởng sản xuất. Hầu hết các phòng ban quan trọng như phòng tổ chức phòng tiền lương phòng  kế hoạch phân xưởng nọ phân xưởng kia đều phải có các chi bộ đảng. Quản lý các chi bộ này là Đảng uỷ xí nghiệp. Các thành viên trong cấp uỷ này thường có giám đốc chủ tịch công đoàn bí thư đoàn thanh niên trưởng phòng tổ chức một vài thành viên khác. Đứng đầu đảng uỷ này là bí thư. Giám đốc phải có chận trong cấp uỷ. Nếu trượt cấp uỷ cầm chắc là giám đốc sẽ bị mất chức.

            Quyền lực của của bí thư Đảng Uỷ  được hình thành nên từ 7 nguồn tương tự như cách phân chia của lý thuyết tổ chức hiện đại là authority Control over resources; Control over information; Nonsubtituability; Centrality; Control over uncertainty; Unobstrusive power. Trong đó quan trọng nhất là do quyền lực do Điều lệ Đảng quy định rằng Đảng lãnh đạo toàn diện kể cả sản xuất công đoan thanh niên sinh đẻ kỷ luật tham ô hủ hoá vv... Nhưng quan trọng hơn cả là Bí thư Đảng cũng là người có quyền quản lý các nguồn lực của xí nghiệp như tiền bạc nhân lực nguyên liệu   nhiên liệu   công cụ sản xuất. Về hình thức thì Bí thư Đảng Uỷ không trực tiếp quản lý nhưng trên thực tyế người đứng đầu các bộ phận này đều là bí thư chi bộ hoặc chí ít cũng là  đảng viên tệ lắm cũng phải là cảm tình Đảng. Do đó Bí thư nắm được các nguồn lực này cũng rất dễ dàng.

Tóm lại vì Bí thư có hệ thống chân rết tới tận tổ sản xuất lại có công cụ "nghị quyết" trong tay nên quyền lực của ông ta rất lớn. Nếu giám đốc muốn triển khai một việc lớn nào đó mà không có sự chấp thuận của Đảng Uỷ giám đốc có thể bị quy kết  nhiều tội. Trong những trường hợp đó mệnh lệnh kế hoạch chắc chắn sẽ không được thực thi

Giám đốc xí nghiệp

Về danh nghĩa Giám đốc một doanh nghiệp là người có chức vụ cao nhất trong một xí nghiệp.  Tuy nhiên thực tế và vai trò của giám đốc ngày xưa và hiện tại khác nhau một trời một vực. Những năm 80 90 trong nhân dân còn lưu truyền những câu "thủ kho to hơn thủ trưởng" "lái xe oai hơn thủ trưởng".  Tại sao vậy ? có rất nhiều lý do nhưng tất cả đều quy về quyền lực của Giám đốc ngày xưa không mạnh. Ông ta không có quyền đuổi việc những người lao động lười biếng vi phạm. Hầu như những lao động thời đó là theo "biên chế" - một dạng hợp đồng lao động trọn đời - rất khó bị huỷ ngang. Trong việc thi hành kỷ luật ông ta không thể áp dụng hình thức kỷ luật tức thì có tính răn đe mà phải mang ra cấp Uỷ công đoàn. Đến lúc kỷ luật được thì mọi việc đã rất nguội như cách nói dân gian là "để lâu cứt trâu hoá bùn"

Tất nhiên là nhiều giám đốc cũng tìm cách cài cắm tay chân của mình vào các phòng ban quan trọng thành lập thêm bộ phận rồi bổ nhiệm người cùng cánh. Điều này cũng tương tự như tình hình mà ông Parkinson phát hiện ra  vào những năm 1914 - 1928. Khi ấy số lượng tàu biển khai thác ở Anh Quốc giảm đi 68%   nhưng  số lượng xưởng đóng tàu sửa chữa tàu lại tăng lên 40% và  số lượng sỹ quan sếp lại tăng lên tới 79%.

Qua nhiều nghiên cứu ông Parkinson cho rằng có 2 nguyên nhân là : Các giám đốc muốn tách và chia nhỏ phòng ban đơn vị con để lọai bỏ đối thủ  và họ muốn lập thêm phòng ban bộ phận để tạo oai vây cánh quyền lực ( chắc chắn là không loại trừ khả năng ai muốn được lên chức thì phải có tí quà cho sếp bà).  Tất nhiên các giám đốc miến Bắc XHCN  thời đó không thể và không có cơ hội đọc sách của Tư bản và chẳng cần biết ông Parkinson là ai nhưng bản năng lãnh đạo đòi hỏi họ phải tạo ra quyền lực cho mình theo cách mà Pakinson phát hiện ra.

Chủ tịch công đoàn

Công đoàn tại các xí nghiệp nhà nước có bản chất hoàn toàn khác với Công đoàn tại các doanh nghiệp châu Âu Mỹ. Họ không có chức năng đàm phán bảo vệ quyền lợi hay ký kết ký thoả ước lao động tập thể với giới chủ mặc dù cũng giống như phương Tây họ cũng phải đóng đoàn phí đóng bảo hiểm xã hội và được hưởng chế độ hưu trí. Bản chất vấn đề là công nhân đã là chủ thì con phải đấu tranh với ai nữa. Vì vậy vai trò của Chủ tịch công đoàn hầu như là chỉ để đi ma chay cưới hỏi sinh đẻ. Tuy nhiên Chủ tịch công đoàn cũng là một thành viên trong Đảng uỷ. Vì vậy đương nhiên chủ tịch công đoàn cũng thuộc mâm trên. Hơn nữa hàng năm các doanh nghiệp nhà nước còn có 1 đại hội lớn gọi là đại hội công nhân viên chức. Nếu so về tính chất và quy mô thì đại hội này cũng không có nhiều khác biệt so với đại hội cổ đông của một số doanh nghiệp hiện nay. Vì vậy chớ có đuà với công đoàn. Giám đốc muốn yên thân phải có công đoàn đùn đít.

Bí thư đoàn

Là thành viên thứ 4 trong bộ Tứ lãnh đạo một công ty. Tương tự như công đoàn tất cả các xí nghiệp đều có chi đoàn đoàn thanh niên để quản lý tất cả các công nhân còn tre trẻ. Vai trò của bí thư đoàn thấp hơn do đoàn không nắm được một vài trong 7 nguồn lực đã nêu ở trên. Tuy nhiên những bí thư đoàn này lại thuộc hàng cán bộ kế cận để đảm nhận những chức vụ cao hơn. Thông thường tại các công ty  Mỹ trưởng phòng thị trường trưởng phòng tài chính thường có khả năng cao hơn để thành giám đốc. Nhưng ở Việt nam thời đó với vai trò là cánh tay phải của Đảng các bí thư đoàn có điều kiện thuận lợi hơn nhiều trưởng phòng quan trọng khác để trở thành giám đốc hay bí thư đảng uỷ.

Mô hình tổ chức các xí nghiệp thời bao cấp

Như đã phân tích ở trên 4 thành phần lãnh đạo đều có hệ thống tổ chức riêng. Bí thư đãng có đảng uỷ bên dưới là các chi bộ và đảng viên ở khắp các phòng ban trong công ty. Giám đốc cũng điều hành các cấp từ phó giám đốc tới level 2 là các trưởng phòng rồi các tổ. Công đoàn và đoàn viên cũng có riêng các ban chấp hành và mạng lưới của họ tới các unit. Tình trạng này rất đến cơ cấu tổ chức rất cồng kềnh quyền lực bị phân tán hiệu lực chỉ đạo sản xuất điều hành rất thấp

Cơ cấu tổ chức của các SOE cách đây 30 năm thường gồm 4 lớp. Sơ đồ dưới đây mô tả một cơ cấu tổ chức tiêu biểu của phần lớn các xí nghiệp thời ấy.
Sự thay đổi quan trọng tại các doanh nghiệp nhà nước vào cuối thập niên 80

Khi tôi chuẩn bị tốt nghiệp Đại học thì Quyết định 217 ra đời. Ngay lập tức nó trở thành một quả bom khiến môn thi bắt buộc về chủ nghĩa cộng sản của khoá tôi tập trungvào 217.

Cho đến trước năm 1986 các doanh nghiệp nhà nước vẫn hoạt động theo cơ chế kế hoạch hoá tập trung họ không phải lo đầu vào đầu ra vì  hệ thống giá còn nhiều khuyết tật cũng nhà nước sẵng sàng cấp vốn bù giá bù lỗ. Vì thế chẳng có chuyện xí nghiệp công ty phải tự chủ trong sản xuất kinh doanh. Các công ty không có phòng marketing không có nhu cầu quảng bá giới thiệu sản phẩm của mình. Tất cả hàng hoá làm ra đều được đưa vào kênh phân phối chung của nhà nước. Giá bán sản phẩm này cũng cố định thống nhất trong cả nước. Tình hình này kéo dài trong nhiều năm và cũng là một trong những nguyên nhân khiến kinh tế Việt nam kém phát triển.

Những năm thập niên 80 trước những bức xúc trong sản xuất nông nghiệp. Đảng công sản đã  có những cải cách quan trọng bằng chính sách "khoán 10" trong nông nghiệp. Ngay lập tức tình hình được cải thiện. Việt nam từ một nước đói ăn triền miên trở thành nước đủ lương thực rồi sau đó trở thành  nước xuất khẩu gạo đứng hàng đầu thế giới. Sau thành công trong nông nghiệp các lĩnh vực công nghiệp cũng được xem xét đổi mới.

  Năm 1986 với Quyết định 217/HĐBT mà Chính Phủ đã ban hành ngày 14/11/1987. Đây là một chính sách quan trọng tạo sự thay đổi lớn cho các doanh nghiệp. Chính sách mới này đã trao quyền tự chủ trong sản xuất kinh doanh cho các DNNN. Theo Quyết định này DNNN phải thực hiện hạch toán kinh tế lấy thu bù chi Nhà nước không cấp bù lỗ như trước đây. Để giao quyền chủ động cho các doanh nghiệp Nhà nước đã giảm các chỉ tiêu kế hoạch pháp lệnh đến năm 1989 hầu hết các DNNN chỉ còn phải thực hiện một chỉ tiêu pháp lệnh duy nhất đó là khoản nộp ngân sách. Với quyết định này các DNNN đã được cởi trói.

Giám đốc lên đời

  Để thực hiện chính sách này vai trò giám đốc được nâng cao rõ rệt. Một thuật ngữ mới hay được báo chí thời đó nhắc đến là thuật ngữ "một thủ trưởng". Người cao nhất tại DN bây giờ là giám đốc chứ không phải bí thư đảng uỷ nữa. Chính sách này đã tạo ra sự thay đổi rõ rệt trong doanh nghiệp. Giám đốc với vai trò người lãnh đạo doanh nghiệp có thể ra các quyết định miễn là không trái với luật pháp. Có thể không cần phải mọi việc đều phải có sự chấp thuận của Bí thư nữa. Giám đốc có thể tự quyết định các vấn đề kinh doanh sản xuất tiêu thụ hàng hoá định giá sản phẩm. Tuy nhiên không phải nó không gặp phải sự chông đối. Thậm chí có người cực đoan còn ví von "217 đẩy đảng ra" (trích một bài báo trên tạp chí cộng sản).

Tuy đã được nới rộng nhiều nhưng quyền hạn của  giám đốc còn bị hạn chế ở một số mặt. Ví dụ như kế toán trưởng vẫn thuộc cấp trên quản lý những vấn đề liên quan tới vốn giám đốc chưa được quyết định. Kế toán trưởng vẫn có quyền từ chối không chi tiền theo yêu cầu của giám đốc. Mặc dù vậy vai trò mới của giám đốc đã là một sự thay đổi ngoạn mục.

Luật doanh nghiệp 1999 và  2005 - thượng phương bảo kiếm để ra đời nhiều doanh nhân

Vào cuối thập niên 80 (khoảng đầu 1990) kinh tế quốc doanh nắm vai trò chi phối nền kinh tế với 12 nghìn xí nghiệp (toàn bộ vốn đều thuộc Nhà nước) chiếm tỉ trọng lớn và giữ những vị trí then chốt trong các ngành phi nông nghiệp.  Tuy nhiên vào tháng 3.1989 Đảng đã có một thay đổi quan trọng vẫn coi kinh tế quốc doanh giữ vai trò chủ đạo song "không nhất thiết chiếm tỉ trọng lớn trong mọi ngành nghề".

Đây là những cơ sở quan trọng để nhiều cơ sở sản xuất phát triển lên thành các công ty. Đó là những điều kiện để có một Bước tiến quan trọng tiếp theo là sự hình thành luật Doanh nghiệp. Năm 1999 luật doanh nghiệp đầu tiên của việt nam được quốc hội thông qua. Luạt này  đã có tác động tích cực loại bỏ những cản trở trở thành nền tảng quan trọng đối với sự phát triển của khu vực kinh tế tư nhân. Theo số liệu thống kê của Cục Phát triển Doanh nghiệp nhỏ và vừa (Bộ Kế hoạch-Đầu tư) từ đầu năm 2000 đến hết năm 2005 trên cả nước đã có khoảng 160.752 doanh nghiệp đăng ký kinh doanh gấp 3 3 lần so với tổng số doanh nghiệp đăng ký thành lập giai đoạn 1991-1999

Qua hơn 6 năm thực hiện Luật Doanh nghiệp năm 1999. Năm 2005 luật DN được sửa đổi  mở rộng thêm một bước nữa . Người dân được quyền tự do kinh doanh những gì luật pháp không cấm góp phần giải phóng phát triển sức sản xuất và tăng trưởng kinh tế thúc đẩy mạnh mẽ việc hình thành và hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN ở nước ta đồng thời góp phần đổi mới cơ bản phương thức và công cụ quản lý Nhà nước đối với doanh nghiệp.
Các mô hình doanh nghiệp mới ở Việt nam ra đời sau luật Doanh nghiệp
Với luật doanh nghiệp mới nhà nước công nhận vấn đề sở hữu và quy định chi tiết về các loại hình công ty tại Việt nam.

·        Công ty Trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên số chủ sở hữu không quá 50 người. Chịu trách nhiệm hữu han trên số vốn góp

·        Công ty Trách nhiệm hữu hạn một thành viên trở lên chỉ có 1 cá nhân . hoặc một tổ chức làm chủ sở hữu và cũng chỉ chịu trách nhiệm hữu han trên số vốn góp. Hiện nay nhiều doanh nghiệp nhà nước cũng đang chuyển đổi sang  mô hình này.

·        Công ty cổ phần:  vốn của công ty được chia làm nhiều phần bằng nhau Tối thiểu có 3 cổ đông và không giới hạn số cổ đông tối đa.

·        Công ty hợp danh

·        Doanh nghiệp tư nhân

·        NHóm công ty (tập đoàn group mẹ con)


PHẦN TIẾP : GIÁM ĐỐC THỜI NAY

More...