songchampls | 15 March, 2010 07:46
VISIT LAOS YEAR 2000
Một đất nước bao gồm nhiều sắc tộc, lại giàu tính lịch sử văn hóa và nghệ thuật, cộng thêm với cảnh trí thiên nhiên nhiều núi non, rất giàu những ngọn suối và cả con sông Mekong vốn dũng mãnh như mạch sống của đất nước Lào. Du lịch sinh thái - Ecotour trở nên hấp dẫn và đang nhanh chóng phát triển thành kỹ nghệ tạo sức bật cho nền kinh tế Lào. Thay cho chánh sách đóng cửa, quyết nghị của Đại Hội 4 Đảng Cách Mạng Nhân Dân Lào là cả một bước ngoặt: "Du lịch là nguồn lợi tức và là thành tố quan trọng để mở mang xứ sở và được coi là một trong tám chương trình phát triển ưu tiên của Lào".
Nha Du Lịch Quốc Gia NTA (National Tourism Authority) là thành viên của Tổ Chức Du Lịch Thế Giới WTO và Tổ Chức Du Lịch Á Châu Thái Bình Dương PATA (Pacific-Asia Tourism Association) được thành lập cùng với mạng lưới du lịch địa phương.
Từ thập niên 90, ngân sách của nhà nước và tiền của doanh nhân ngoại quốc đầu tư đã lên tới con số hơn 180 triệu đôla để xây dựng các tiện nghi phục vụ du lịch. Hơn 300 hướng dẫn viên du lịch và cả cảnh sát du lịch (Tourism Police) được đào tạo. Đặc biệt là kế hoạch kết hợp du lịch trong Lưu Vực Lớn Sông Mekong GMS / Greater Mekong Subregion. Số buồng khách sạn và nhà khách lên tới 5500 buồng và 11 cửa khẩu được mở ra cho khách du lịch vào Lào trong số đó có 3 nơi du khách có thể lấy visas khi tới nơi - visa on arrival. Ngoài cố đô Luang Prabang đã được UNESCO xếp vào Khu Di Sản Thế Giới / World Heritage Site, Lào còn rất giàu những di tích và thắng cảnh, cả những chương trình du ngoạn chèo thuyền trên sông Ou, sông Ngum và đi xuyên rừng (hiking) ở Sepien tỉnh Champassak rất hấp dẫn du khách.
Đã có những trang nhà Web Page quảng cáo du lịch Lào. Các sắc tộc thiểu số rất tích cực tham gia Năm Du Lịch Lào với tổ chức những ngày lễ hội truyền thống với các vũ điệu và trang phục đầy màu sắc: hội tưới nước Pimay đầu năm ở Luang Prabang, lễ hội That Luang ở Vạn Tượng, That Inhang ở Savanakhet, Wat Phou ở Champassak, các ngày hội pháo bông (rocket festivals) trên khắp nước Lào...
Vài con số dễ nể về Du Lịch Lào: Năm 1991, chỉ có 37.000 du khách đem lại 2.25 triệu đôla. Năm 1999, số du khách tăng lên gần 20 lần thu nhập lên tới ngót 100 triệu đôla, số ngoại tệ thật đáng kể cho ngân sách luôn luôn thiếu hụt của đất nước Lào. Khi mà số du khách có triển vọng lên tới con số một triệu trong thập niên đầu của thế kỷ 21, thì nét quyến rũ của Lào như "một xứ sở của thiên nhiên nguyên vẹn nhất Đông Nam Á" sẽ mau chóng trở thành sự kiện của quá khứ.
MỘT NỀN Y TẾ THÔ SƠ CỦA LÀO
Cho dù Bộ Y Tế Lào có được một tòa nhà mới uy nghi trên đường Samsenthai, nền y tế Lào với rất nhiều khẩu hiệu vẫn cứ rất là thô sơ sau 25 năm tiến lên Chủ Nghĩa Xã Hội. Số tử vong trẻ em vẫn rất cao, tuổi thọ trung bình của người dân Lào rất thấp ngay như so với các quốc gia láng giềng. Mahousot vẫn là bệnh viện chính của Vạn Tượng, cũ kỹ và thô sơ. Bệnh viện Settathirat do Nhật giúp xây và trang bị thì chưa biết bao giờ hoàn tất. Các bệnh viện tuyến tỉnh và huyện thì lại càng thô sơ hơn nữa: bệnh nhiễm như lao phổi nằm chung với các bệnh tiêu hóa không làm ai thắc mắc. Cả nước Lào với dân số hơn 5 triệu, chỉ gồm 1800 bác sĩ, với một số rất ít được tu nghiệp ở nước ngoài. Lương một bác sĩ sau 7 năm học khoảng 150 đôla / năm, chỉ đủ tiền xe di chuyển nếu phải bổ nhiệm về làm ở một nhà thương tỉnh hay huyện xa nhà.
Doanh nhân ngoại quốc, du khách và người Lào có tiền, khi có bệnh thì được chuyển qua Thái Lan. Một bệnh viện tỉnh ở Thái như Udon cách bên kia cầu Mittaphap 50 km vẫn có tiêu chuẩn hơn về mọi phương diện so với bệnh viện đại học Mahosot của thủ đô Vạn Tượng. Lào đang theo bước Thái Lan, phát triển du lịch bằng mọi giá: chuyển từ Du Lịch Xanh - Ecotour sang Du Lịch Đen - Opium Tour & Sextour. Bệnh hoa liễu khá phổ biến ở Lào, số các cô gái quê nhiễm HIV ngày một gia tăng. Hiểm họa dịch AIDS là có thật, sách hướng dẫn du lịch khuyên khách tới Lào luôn luôn mang theo "condom" từ nhà thay vì dùng bọc cao su "made in Thailand" được đánh giá là thiếu phẩm chất và có tỉ lệ hơn 10% không an toàn!
Vì thiếu phương tiện phát hiện nên những con số thống kê nhiễm HIV ở Lào không hề phản ánh thực trạng. Qua cuộc khảo sát năm 1993 (vào thời điểm chỉ mới có 102 ngàn du khách/ năm) thì đã có 0.8% số người hiến máu nhiễm HIV; đến năm 1999 số du khách đã tăng lên gấp 6 lần - trong đó có rất nhiều Tây Ba lô đi tìm hút thuốc phiện và các cô gái AIDS-free ở Lào, thì dịch HIV có triển vọng sẽ tăng theo cấp số nhân. Khu Bệnh Nhiễm quá thô sơ và nghèo nàn của bệnh viện Mahosot vẫn với tấm bảng hiệu cũ kỹ bằng tiếng Pháp "Servicedes Maladies Infectieuses et Médecine Tropicale", đất nước Lào quả thật chưa hề được chuẩn bị để đương đầu với trận dịch HIV/AIDS do các ông Tây Ba lô đang truyền sang các cô gái Lào.
MƯỜNG LUÔNG KHU DI SẢN THẾ GIỚI
Chuông chiều ngân trong gió
Tháp núi ẩn màn sương
Lầu vua thu bóng nhỏ
Chùa bụt lạnh hơi sương (Vân Đài 1942)
Cho dù đã được UNESCO chọn là Khu Di Sản Thế Giới nhưng cố đô Luang Prabang [Mường Luông] lại đang có những đổi thay thật mau chóng. Nhà khách, quán ăn mọc khắp nơi, thực đơn luôn luôn có phần tiếng Anh và không làm ai ngạc nhiên khi một quán ăn bình dân khác có cả thực đơn tiếng Do Thái. Trở lại thăm Hoàng Cung vẫn trên con đường Phothisarat, nay đã trở thành Viện Bảo Tàng Quốc Gia nhưng bên trong thì ngày càng trống trải. Nhiều kỷ vật của các nguyên thủ quốc gia tặng nhà vua như khẩu súng săn với báng nạm ngọc của Leonid Brezhnev, bộ đồ trà của Mao Trạch Đông...vốn được trưng bày nơi phòng khách thì nay đã biến mất, hỏi nhân viên hướng dẫn thì không có câu trả lời ngoài một nụ cười hiền. Chỉ có bức tranh tường (mural) của họa sĩ Pháp Alex de Fontereau với chủ đề "Một Ngày Luang Prabang" nơi Phòng Khách Sứ Thần chẳng thể gỡ đi đem bán thì vẫn nguyên vẹn. Có thêm mấy chiếc Trống Đồng tuổi từ 600 tới 1000 năm tìm thấy được ở Bắc Lào. Giữa mặt trống đồng là hình mặt trời tỏa sáng, trang trí vòng quanh là các hình cá, hoa và chim. Hình chạm nổi những con ếch bên rìa trống đồng tượng trưng cho Mùa Mưa. Tất cả những hình ảnh ấy kết hợp hài hòa như biểu tượng cho "sự sống, đất đai màu mỡ và sự phồn vinh". Không xa Hoàng Cung về phía bắc trên đường bờ sông Manthatoulat là con sông Mekong tuy chưa phải Mùa Khô mà đã co thắt lại như một con sông nhỏ. Các vườn rau nơi mé sông ngày một mở rộng và mực nước thì cứ lùi dần. "Sự sống,đất đai màu mỡ và sự phồn vinh" ấy rồi ra sẽ trở thành quá khứ chỉ có trên mặt trống đồng. Không có ai thắc mắc về hiện tượng con sông đang cạn dòng ấy. Nhưng tôi thì hiểu rằng chỉ cách đó vài trăm cây số về phía bắc mấy con đập bậc thềm Mạn Loan [Manwan], Đại Chiếu Sơn [Dachaosan], Cảnh Hồng [Jinghong] và sắp tới là con đập mẹ Xiaowan... trong chuỗi 8 con đập khổng lồ Vân Nam đã bắt đầu ảnh hưởng làm tụt thấp mực nước của con sông Mekong và ngăn chặn phù sa xuống hạ nguồn.
Con sông Mekong đẫm phù sa vốn là tặng dữ của thiên nhiên từ bao ngàn năm thì nay đang nhợt nhạt dần.
TỪ TÂY BA LÔ TỚI HENRI MOUHOT (1826 - 1861)
Henri Mouhot là một cái tên gần như xa lạ với đa số cư dân Lào bây giờ. Cho dù là người Pháp đầu tiên tới kinh đô Luang Prabang nhưng tên tuổi Mouhot lại được biết đến như người tái phát hiện khu đền đài Angkor. Tuy không phải là người Tây Phương đầu tiên tới Angkor, nhưng do những trang bút ký hấp dẫn và lôi cuốn được in ra ba năm sau khi ông chết, khiến tên tuổi Mouhot gắn liền với khu đền đài Angkor. Mouhot cũng là nguồn cảm hứng cho văn nghệ sĩ sáng tác thời đó, điển hình là sự ra đời của các tác phẩm như The Governess of the King and I của Anna Leonowens 1870.
Gốc người Pháp nhưng Mouhot đã gặp phải sự thờ ơ của đồng hương. Ông đã phải quay sang nhờ tới người Anh. Là nhà thám hiểm và đồng thời cũng là nhà sinh học, Mouhot vừa đi vừa tìm kiếm các loài côn trùng hiếm. Tháng 12 năm 1860, Mouhot quyết định khởi hành từ Bangkok để lại sang Lào, băng qua vùng đông bắc Thái, đi qua những bộ lạc, những vương quốc của Vua Lửa thuộc các tỉnh Korat, Loei bây giờ, nơi chưa hề có dấu chân người Tây Phương nào. Những đứa trẻ từ vùng bắc Thái sang tới Lào đã mau chóng trở nên thân thuộc với một ông Tây râu đỏ và con chó Tin Tin luôn luôn theo cùng. Bọn chúng đã biết kiếm bắt côn trùng nộp cho ông để đổi lấy chiếc vòng đồng hay thuốc lá và Mouhot nhận xét là "lũ trẻ ấy dường như đã biết hút thuốc khi khi mới rời vú mẹ."
Phải hơn 7 tháng trời lặn lội để từ Bangkok tới kinh đô Luang Prabang là một thị trấn quyến rũ như Genève và tại đây Mouhot được vua Tiantha tiếp đón trọng hậu.
"Sau 10 ngày chờ đợi cuối cùng tôi được diện kiến nhà vua với nghi lễ long trọng. Phòng tiếp tân được trang trí như một ngày lễ hội lớn với màu sắc sặc sỡ. Nơi sảnh đường nhà vuanhàn nhã ngả mình trên một chiếc divan với bên mặt là 4 vệ sĩ cầm gươm quỳ hầu, phía sau là các hoàng thân tất cả đều rạp mình phủ phục và phía sau xa hơn nữa là các quan triều đình xoay lưng ra ngoài và úp mặt xuống nền đất."
Từ Luang Prabang như trạm xuất phát, Mouhot đã thực hiện nhiều chuyến thám hiểm khảo sát ra các vùng rừng núi xa nhưng rồi chỉ 3 tháng sau ông bị cơn sốt rừng / forest fever - có lẽ là cơn sốt rét ác tính và chết ở cái tuổi mới 35 với dòng chữ cuối cùng trên trang bút ký: "Thương cho tôi, Chúa ôi..." Xác Mouhot được vùi nông bên bờ sông Nam Khan, một phụ lưu của con sông Mekong với con chó Tin Tin vẫn tru lên nằm bên mộ chủ. Phải sáu năm sau (1867) khi Đoàn Thám Hiểm Pháp tới Luang Prabang, họ mới tìm ra nơi chôn và Doudart de Lagrée với tư cách trưởng đoàn đã xây cho Mouhot ngôi mộ khang trang đầu tiên.
Ban Phanom cách cố đô Luang Prabang 5 Km về hướng đông, với hơn 100 nóc gia thuộc sắc tộc Lu gốc từ Vân Nam, nổi tiếng về nghề dệt thủ công dùng để tiến vua. Bằng một con đường đất bốc mù bụi đỏ rất khó đi lại đang từng khúc bị cắt sửa nên xe phải chạy đường vòng. Theo sách hướng dẫn thì tấm bảng chỉ đường cũng đã bị gỡ mất và cuối cùng phải nhờ tới hai em nhỏ trong Ban Phanom mới tìm ra ngôi mộ Mouhot khuất lấp dưới những tàn cây um tùm. Khó mà tưởng tượng rằng cách đây ngót 140 năm trong cảnh hoang sơ của rừng rậm, bên dòng sông chảy xiết, nỗi hiu quạnh và can trường của Mouhot phải lớn lao đến là thế nào. Ngôi mộ sơn trắng vuông vức bắt đầu ngả sang màu rêu phong, còn gắn 2 tấm bia đá đen cổ đã sứt mẻ từ hơn một thế kỷ trước: Henri Mouhot 1826 - 1861. Doudart de Lagrée fit élever ce Tombeau en 1867 Pavie le reconstruisit en 1887 (Doudart de Lagrée xây ngôi mộ này năm 1867 và được Auguste Pavie lãnh sự Pháp ở Luang Prabang trùng tu năm 1887). Ở lần trùng tu cuối cùng năm 1990, ngôi mộ lại được gắn thêm một bảng lưu niệm bằng đá trắng gửi từ Montbéliard quê hương nơi sinh của Mouhot với dòng chữ khắc thật đơn giản nhưng ý nghĩa: "La ville de Montbéliard fière de son enfant 1990". (Montbéliard hãnh diện về đứa con của mình 1990) Mouhot biểu hiện cho thế hệ thanh niên Pháp tuổi trẻ rạng rỡ học thức sống giữa thế kỷ 19 - thế kỷ của chịu đựng và khắc kỷ đã như người lính tiền trạm trước khi Pháp áp đặt nền bảo hộ trên cả ba nước Đông Dương.
Theo bước chân Mouhot ngót 140 năm sau, là tấp nập những Tây Ba lô cũng từ Thái đổ tới Lào, không phải đi tìm các loài côn trùng hiếm mà là chất nhựa đặc quánh ứa ra từ những trái cây thuốc phiện. Không ít người tới Lào và đã không bao giờ trở về.
HANG PHẬT PAK OU
Chỉ mới đây thôi khi chưa có con đường bộ người ta phải đi thuyền máy với hơn 2 giờ đường sông từ Luang Prabang ngược dòng Mekong để tới bản Pak Ou. Pak Ou hay "cửa sông Ou" nơi con sông Nam Ou nước trong xanh không có phù sa đổ vào con sông Mekong. Bên kia sông là một ngọn núi đá cao đứng sừng sững. Phải bằng chuyến đò ngang để qua sông. Với giúp đỡ ngân sách của Thụy Điển, nay khách đã có thể tới Pak Ou bằng đường bộ, qua bản Shang Hay - rất nổi tiếng về làm chum và cất rượu gạo, để tới bản Pak Ou êm đềm nằm bên tả ngạn sông Mekong.
Pak Ou Caves là tên chỉ chung hai hang Phật: Tam Ting (Hang Dưới) và Tam Phum (Hang Trên). Chẳng thể ngờ rằng nơi ấy có những hang đá lớn chứa cả hơn 4000 tượng Phật cổ từ hơn 300 năm trước với đủ kích thước và hình dạng mà như một kỳ công, dân Lào phải ban đêm chèo thuyền trốn giặc để đi giấu Phật khi kinh đô Luang Prabang bị ngoại xâm. "Ký họa đầu tiên về Hang Phật Pak Ou cũng đã được tìm thấy trong tường trình về cuộc thám hiểm sông Mekong 1865-1867 của Francis Garnier".
Khi còn thể chế quân chủ, theo truyền thống hàng năm nhà vua đều tới thăm hang Phật vào ngày tết Pimay và ở qua đêm trong một ngôi chùa hoàng gia nơi bản Pak Ou. Dân chúng cũng tấp nập dùng ghe thuyền từ Luang Prabang ngược dòng Mae Nam Không tới hang Pak Ou hành hương, với nghi thức dùng nước hoa thơm tắm Phật. Thêm hơn 200 bậc thềm để tới được hang trên, cảm giác như bước vào một thế giới khác.
Trong ánh sáng chạng vạng, không gian tĩnh lặng ẩm mát thoảng mùi rêu mốc và thời gian như ngừng lại. Từ bên trong nhìn ra ngoài cửa hang là hàng dãy những tượng Phật bao phủ bụi thời gian, cả bị sứt mẻ nhưng không suy xuyển vẫn là nụ cười an tĩnh của Đức Phật lan tỏa xuống con sông Mekong còn đẫm phù sa như cũng đang cạn dần. Hang Pak Ou nổi tiếng là linh thiêng để dâng lời cầu nguyện. "Không phải Phật tử nhưng tôi cũng đã thắp nén nhang và có bó hoa tươi cúng Phật với lời khấn nguyện cho con sông Mekong cứ mãi nguyên vẹn, vẫn mãi là mạch sống của cư dân bảy quốc gia sống hai bên bờ con sông ấy..."
Nhưng chỉ vừa bước ra cửa hang, nhìn ngấn nước trên vách đá đã tụt xuống thật thấp thì tôi chợt hiểu rằng lời cầu nguyện ấy đã như một "giấc-mơ-không-thể-được". Những bãi cát trồi lên sớm hơn, người dân quanh vùng kéo nhau tới đây sớm hơn để đãi vàng.
MỘT THOÁNG THÁI LAN / BÊN KIA CẦU MITTAPHAP
Cây cầu do Úc hoàn tất 1994 như cánh cửa mở ra để Lào tiếp xúc với thế giới bên ngoài. Từ Thái Lan qua cầu, du khách có thể đóng dấu nhập cảnh khi tới giống như tại phi trường quốc tế Wattay. Nơi đầu cầu có trạm đổi tiền, bưu điện và cửa hàng bách hóa sang trọng miễn thuế dành cho du khách. Giai thoại về một hệ thống cửa hàng bách hóa "free duty shop" theo tiêu chuẩn quốc tế do Singapore thiết kế nơi các cửa khẩu trên toàn xứ Lào, mà chủ nhân triệu phú đô la xuất thân nghề buôn vàng lại là một phụ nữ Lào gốc Việt rất đơn sơ hiện sống ở Paksé.
Từ trên cầu nhìn xuống dòng chảy để thấy suốt chiều dài 4661 Km của dòng sông từ Tây Tạng ra tới Biển Đông, với cả chiều dày lịch sử, đã và đang soi bóng bao nền văn minh, có cả Văn Minh Miệt Vườn trên một vùng đất mới chưa đầy 300 tuổi đã lại đứng trước nguy cơ tiêu vong. Bên kia cầu là Nong Khai một thị trấn nhỏ nằm phía cực bắc cao nguyên Isan - nguyên là cả một vùng đất rộng lớn mênh mông và khô hạn nhưng lại được bao quanh bởi con sông
Mekong - một biên giới tưởng như là thiên nhiên nhưng thật ra là do thực dân Pháp Anh toa rập cắt một phần lớn đất Lào sát nhập vào Thái từ 1941. Cư dân Isan đa số là người Lào chiếm 1/3 dân số Thái - nói cùng ngôn ngữ (cũng dễ hiểu vì sao các chương trình truyền hình Thái là phần giải trí và cả thông tin thường ngày của các gia đình khá giả bên Lào). Phải kể tới số không ít những người Việt tản cư sinh sống lâu năm ở đây từ những thập niên 40 - 50 khi cuộc kháng chiến chống Pháp lan rộng ra cả ba nước Đông Dương.
Cho tới những năm 60, cao nguyên Isan vẫn còn là vùng đất nghèo nàn. Để đáp ứng với cường độ Chiến Tranh Việt Nam gia tăng và cũng để ngăn chặn xâm nhập của cộng sản vào đất Thái, Mỹ đã ồ ạt đổ tiền vào phát triển Isan, mở mang hệ thống xa lộ tối tân, xây 4 phi trường quân sự chiến lược, nơi xuất phát các đoàn máy bay phản lực oanh kích Bắc Việt và cả những đoàn cấp cứu các phi công Mỹ bị bắn rơi. Mỹ cũng tích cực giúp Thái xây các con đập thủy điện trên phụ lưu sông Mekong điển hình là hai con đập Nam Pong và Nam Pung, nhằm điện khí hóa nông thôn, cải thiện hệ thống tiêu tưới khiến mức nông sản gia tăng vượt mức. Như từ bao giờ, Nong Khai vẫn là cửa ngõ đi vào xứ Lào nhưng hương vị của một thị trấn tỉnh nhỏ bên sông ngày nay không còn nữa từ ngày có cây cầu Mittaphap. Đây là nơi du khách đổ tới bằng đường bộ dừng chân trước khi vượt sông qua Lào.
Các nhà khách tiện nghi, khách sạn 4 sao mọc lên, có cả Holidays Inn Mekong Royal trên đường Jomanee cao 8 từng với 200 buồng lộng lẫy nhìn ra con sông Mekong.
Nong Khai đang vào giữa mùa bầu cử, trên đường phố tràn ngập Posters với khẩu hiệu của các ứng viên vận động tranh ghế. Bác tài xế taxi người Thái có ánh mắt lúc nào cũng như đang cười, giọng hiền lành:
- Chúng tôi sẽ bầu cho ứng viên nào giàu nhất, vì họ chỉ cần danh chẳng cần tiền nên sẽ không có tham nhũng. Không biết tự bao giờ người dân Thái đã thấm nhuần chủ nghĩa thực tiễn kiểu Mỹ. Đó cũng là lý do tại sao đảng Người Thái Yêu Thái của nhà tỉ phú Thaksin Shinawatra có triển vọng thắng phiếu dễ dàng để tiến tới lập nội các mới. Học vấn của Thaksin cũng là điều đáng nói: tốt nghiệp tiến sĩ Đại Học Houston Texas trở thành người giàu có nhất Thái vì kinh doanh thành công trong ngành điện toán, được báo chí Mỹ mệnh danh là "ông trùm kỹ thuật cao / high-tech mogul".
Thaksin biểu tượng cho thế hệ lãnh đạo mới tại các quốc gia đang phát triển trên đà toàn cầu hóa / globalization theo cái nghĩa Mỹ hóa / Americanization: biểu hiện rõ nét là nguyên thủ các quốc gia như Đài Loan, Chile, Mễ Tây Cơ và sắp tới là Thái Lan, Phi Luật Tân... đều được đào tạo và có học vị tiến sĩ từ Mỹ.
Thái Lan là quốc gia duy nhất ở Đông Nam Á không bị ách đô hộ của thực dân Anh Pháp vào thế kỷ 19, lại thoát khỏi nửa thế kỷ chiến tranh, được hưởng lợi từ cuộc chiến tranh Việt Nam, và còn tiếp tục được hưởng lợi sau cuộc chiến ấy do dịch vụ cung cấp gạo thực phẩm rau trái cho hai triệu người Việt hải ngoại, phải nói rằng thập niên 80 là thời kỳ kinh tế phát triển huy hoàng nhất của Thái.Như từ bao giờ, người dân quê Thái chỉ lại được nhớ và nhắc tới trong mùa bầu cử. Mỗi lá phiếu đều có giá tính theo đồng baht - bản vị tiền tệ Thái. Mua chuộc không xong thì có giải pháp bạo lực. Tham nhũng và bạo lực luôn luôn là bộ đôi nguy hiểm - Dangerous Duo trên sân khấu chánh trị Thái. Câu nói của một giáo sư Chánh Trị Học Đại Học Thammasat phản ánh điều ấy:
- Tại sao lại phải tiêu hơn 30 triệu baht (hơn nửa triệu đô la) để mua một ông xã trưởng trong khi chỉ cần 1/10 số tiền ấy thuê một tay súng là xong?
Cũng để trấn an người dân đi bầu, viên Tướng tổng tư lệnh quân đội Thái đã hứa là "sẽ không có đảo chánh cho dù kết quả cuộc bầu cử ra sao." [Sic] Nhưng nếu cần phải đổi ý thì cũng là quyền của ông Tướng ấy. Cuộc binh biến 1932, đã như một khúc rẽ trong sinh hoạt chánh trị Thái, đã chấm dứt vương quyền độc tôn, chuyển qua chế độ quân chủ lập hiến giống như Anh Quốc, vua và hoàng gia chỉ có vai trò lễ nghi. Nhưng đến đời Bhumibol thì tình hình đổi khác, nhà vua trở thành một trọng tài được kính trọng bởi mọi phía như một "mẫu số chung" nối kết lòng người và đứng trên mọi tranh chấp. Khi mà nhà vua là yếu tố để đoàn kết và ổn định xã hội Thái trong hơn nửa thế kỷ, thì một câu hỏi lớn được nêu ra là sau Bhumibol liệu ai là người có thể thay thế nối ngôi trong khi hoàng thái tử thì hoang đàng chỉ là một phó bản mờ nhạt của phụ thân. Đây đang là mối ưu tư của mỗi người dân Thái khi biết nhà vua năm nay đã cũng đã 72 tuổi rồi và người ta đang nghĩ tới công chúa Chakri Sirindhorn có cơ trở thành nữ hoàng đầu tiên trong lịch sử đầy biến động của Thái Lan bước sang thế kỷ 21.
Đặt chân tới thị trấn biên thùy này, tôi không có nhiều mối bận tâm về chánh trị của xứ Thái. Tôi đến một quán ven sông và đang muốn tìm tới sự yên tĩnh của dòng sông Mekong. Tôi cũng đang nghĩ tới mấy con cá Pla Beuk - Pangasianodon gigas, giống cá bông lau khổng lồ nặng hơn 300 kg, nay còn hay mất nơi khúc sông dưới chân cầu Mittaphap. Pla Beuk thì có đó cả bao ngàn năm rồi chứ đâu có phải chờ tới năm 1930, mới có con cá Pla Beuk đầu xuất hiện trên sách báo Tây phương. Và sớm hơn trước đó cả nửa thế kỷ James McCarthy (1881 - 1893) nhà thám hiểm Anh trong cuốn sách Surveying and Exploring in Siam đã có ghi nhận về cá Pla Beuk với nhiều chi tiết khi ông: "giúp ngư dân kéo con cá Pla Beuk nặng 130 cân Anh dài 7 bộ vòng thân 4.2 bộ, là loại cá không vẩy không răng..." McCarthy còn đề cập tới cả trứng cá Pla Beuk giống như trứng cá tầm caviar [sturgeon] rất ngon và hiếm quý từng được các vua Lào dùng như phẩm vật triều cống triều đình Huế hay Bangkok.
Vào thăm chợ Nong Khai, chủ yếu để thăm những mớ cá còn lưới được từ con sông Mekong. Không khác bao nhiêu với những ngôi chợ Việt Nam, đầy màu sắc với hoa trái vùng nhiệt đới. Chưa bao giờ tôi thấy me dốt lại có thể nhiều đến như vậy với những sọt những thúng chất thành vồng trên các xạp. Bạn hàng trong chợ không ít là người Việt nhưng họ tránh nói tiếng Việt. Lý do là dân Thái không mấy ưa người Việt mà họ coi như là cội nguồn bất an do có liên hệ tới các hoạt động của đảng Cộng Sản Thái trước đây [CPT -CommunistParty of Thai]. Các nhà cách mạng Việt Nam như chí sĩ Phan Bội Châu, Hồ Chí Minh khi bị thực dân Pháp lùng bắt cũng đã có một thời gian từng bôn ba sống và hoạt động trên lãnh thổ Thái.
VIỆT KIỀU TRÊN ĐẤT THÁI
Theo Hoàng Văn Hoan, "Giọt Nước Trong Biển Cả" thì vào giữa thập niên 40, khởi đầu cuộc kháng chiến chống Pháp, số người Việt ở Thái, đa số từ Lào tản cư sang đã lên tới cả 100 ngàn. Ban đầu do có thiện cảm với cách mạng Việt Nam, người Thái và chánh phủ Thái không những chấp nhận sự có mặt đông đảo của cộng đồng người Việt, họ còn tận tình giúp đỡ. Đất Thái trở thành hậu phương an toàn và địa bàn hoạt động của cuộc kháng chiến chống Pháp. Cuộc sống tuy tha hương nhưng lại thuận lợi tới nỗi chính những người Việt ấy như quên là mình đang sống trên đất khách quê người. Tới mức họ trở thành chủ quan và cao ngạo,sống phô trương lộ liễu chẳng quan tâm gì tới tập quán phong tục của người Thái. Họ mở Nông Trường lấy tên Việt Nam, luôn luôn rầm rộ tổ chức những ngày lễ hội với cờ xí treo khắp nơi,với cả bộ đội Việt kiều mang súng nghênh ngang đi khắp đường phố...Và hiển nhiên cái gì phải tới đã tới: từ thập niên 50 không phải chỉ người dân Thái địa phương than phiền mà cả báo chí Thái Lan của chánh quyền mới hữu khuynh cũng khởi đầu một chiến dịch chống đối người Việt. Từ thiện cảm giúp đỡ, đã lại chuyển sang tình cảm thù nghịch. Và hậu quả là Việt kiều ở Thái tuy không bị cưỡng bách hồi hương nhưng họ bị kỳ thị, bị cấm di chuyển ra khỏi nơi đang cư trú. Khác với người Hoa dễ dàng được chấp nhận hội nhập vào xã hội Thái, người Việt sống trên đất Thái đã có một thời gian từng bị đối xử như một thứ công dân hạng hai. Và chỉ mới đây thôi, sau hơn nửa thế kỷ tình hình có phần nào được cải thiện khi chánh phủ Bangkok bắt đầu chấp thuận cho những người Việt sống lâu năm và sinh đẻ trên đất Thái được nhập tịch. Cho dù đã sang thế hệ thứ ba, trở thành công dân Thái - đã từ lâu mất liên hệ với thực tại của Việt Nam nhưng họ vẫn là những người Thái gốc Việt giữ tình cảm gắn bó với quê nhà, với chế độ cộng sản Hà Nội qua hình ảnh Cách Mạng Tháng Tám và cuộc Kháng Chiến Chống Pháp ngày nào. Chân dung ông Hồ vẫn còn được các cụ già thuộc thế hệ thứ nhất tuổingoài trưng giữ ở một nơi trang trọng trong gia đình. Tới khu chợ cá Nong Khai, niềm vui là còn thấy được mớ cá tươi ngon lưới được từ con sông Mekong. Trên sạp cá ấy có cả một con cá lớn Pa Pu hơn 50 kg đang được xẻ khúc. Tôi hỏi mà không chút trông đợi về một con cá Pla Beuk. Lần này thì là sự kinh ngạc khi thấy chủ vựa lại tủ nước đá khệ nệ bưng ra một đầu cá Pla Beuk với lời giải thích:
- Pla Beuk nay rất hiếm nhưng may là anh tới đúng lúc.
Đây không phải là một con cá Pla Beuk lớn đúng cỡ, chỉ cân nặng chừng 45 Kg chứ không phải hơn ba tạ, mà người ta còn lưới được trên sông Mekong.
Có lẽ đây là một trong mấy con cá Pla Beuk thiên nhiên cuối cùng còn sót lại nơi lũng sâu nào đó của con sông Mekong mà tôi còn có may mắn thấy được trong khu chợ Nong Khai vào vào những ngày cuối năm 2000. Đến Nong Khai cũng là đến với ngôi Đền Phật Giữa Sông - Phrathat Klang Nam bị đổ sập xuống từ năm 1847 và càng ngày càng bị nước cuốn xa ra giữa dòng và chỉ thấy nhô lên trong mùa nước thấp. Henri Mouhot 140 năm trước (1860) khi từ Bangkok băng qua cao nguyên Isan để sang Lào, khi ngược dòng sông Mekong cũng đã ghi nhận về "Một ngôi đền Phật bị lũ cuốn xa khỏi bờ và nay chỉ còn phân nửa nhô trên mặt nước, giống như một con tàu đắm".
Chỉ 5 km phía đông Nong Khai là một cảnh trí kỳ lạ khác Wat Khaek, như một nét văn hóa mới khác của con sông Mekong với những tượng đài khổng lồ chỉ mới được dựng lên từ thập niên 70. Tượng Rắn Thần Naga Bảy Đầu cao hơn 30m với sự tích rắn che chở cho Đức Phật qua khỏi cơn giông bão. Với tôi, Naga còn biểu trưng cho những khu rừng mưa, ngậm giữ nước trong mùa mưa và rồi nhả ra trong mùa khô điều hòa mực nước con sông Mekong, giúp ngư dân có cá và nông gia hai mùa đủ nước gieo trồng.
UDON THANI NGÀY NÀO
50 km phía nam Nong Khai là thị trấn Udon Thani, trước đây là căn cứ không quân chiến lược Mỹ được nhắc đến nhiều nhất trong cuộc Chiến Tranh Việt Nam với tràn ngập những cô gái Thái từ vùng quê đổ về làm việc trong những quán Bar, tiệm đấm bóp, khách sạn với phòng máy lạnh chủ yếu để phục vụ đám lính Mỹ GI's đồn trú. Điện từ đập Nam Ngum phía Lào bên kia sông Mekong cũng đã góp phần không nhỏ cho bước phát triển nhảy vọt của Udon. Sau 1975 cho dù Chiến Tranh Việt Nam đã chấm dứt, hàng trăm lính Mỹ lấy vợ Thái Lan chọn ở lại Udon và từ chối hồi hương. 25 năm sau, đã không còn dấu vết của một khu gia binh như vậy. Họ đã phân tán đi tứ xứ: số về Mỹ, số theo chân vợ và con cái đã trưởng thành đi làm ăn ở những nơi khác. Còn lại chăng là một tiệm Fast food T&J với Hamburger và French Fries khá thành công mà chủ nhân là một cựu chiến binh Mỹ hiếm hoi còn ở lại.
Udon ngày nay được đánh giá là một thành phố đẹp chưa có ô nhiễm tệ hại như Bangkok. Không còn người Mỹ nhưng nếp sống Mỹ hóa thì đã lại rất đậm nét nơi đây với Pizza Hut, Kentucky Fried Chicken và Mac Donnald... trong các Malls. Với cây cầu Mittaphap, Udon nay trở thành địa điểm lý tưởng cho dân Vạn Tượng qua mua sắm / shopping mỗi cuối tuần không phải chỉ có hàng đẹp giá rẻ mà còn đáp ứng thời trang cho các cô gái Lào thế hệ 2000. Cũng vẫn cô bác sĩ Lào từng du học ở Pháp cho biết:
- Bất cứ mode nào mới nhất ở Paris, New York hay Hong Kong thì chỉ một hai tuần sau đã có mặt ở tiệm bách hóa Udon.
Chỉ tấm bảng hiệu rất lớn bên đường "We Care, Ask Oudon International Hospital", cô bác sĩ Lào nói tiếp:
- Bệnh viện Quốc Tế Udon như là tuyến trên để chuyển bệnh cấp cứu từ nhà thương Mahousot Vạn Tượng mà không cần phải đi Bangkok.
Một cách lặng lẽ và chắc chắn đất nước Lào đang thực sự từng bước "Thái Hóa" qua sức mạnh thẩm thấu kinh tế và văn hóa của nước láng giềng đầy năng động lại nói cùng thứ tiếng bên kia bờ con sông Mekong.
KHU LÀNG TIỀN SỬ BAN CHIANG
Ban Chiang như đỉnh của một tam giác với Nong Khai và Udon là cạnh đáy, 56 Km về hướng đông theo con lộ 22. Tới với khu khai quật Ban Chiang là trở lại với Thời Kỳ Đồ Đồng với nền văn minh có lẽ là cổ xưa nhất của con sông Mekong bị vùi lấp và được coi là phát hiện quan trọng nhất trong vùng Đông Nam Á từ sau Thế Chiến II. Như một giai thoại, cách đây 44 năm (1966) một sinh viên khảo cổ học người Mỹ khi đi vào cánh đồng của khu làng Ban Chiang, anh ta đã bị vấp ngã trên rễ một gốc cây bông gạo kapok và chẳng thể ngờ rằng anh đã ngã vào cả một kho tàng cổ sử. Quanh anh là vô số mảnh sành nhô ra từ mặt đất. Anh thâu thập những mảnh vỡ ấy gửi về Bangkok và sau đó về Đại Học Pennsylvania để nghiên cứu.
Những mảnh sành mảnh xứ và cả xương người với dân làng Ban Chiang từ trước đến nay đâu có lạ gì vì họ vẫn đụng phải khi đào xới đất để canh tác. Chỉ khi có tin đồn về "ngôi làng tiền sử" được lan truyền thì dân làng mới đổ xô tới đào bới kiếm đủ loại cổ vật mà họ không biết là vô giá đem bán rẻ cho các nhà sưu tập ngoại quốc. Khá trễ mãi 4 năm sau, các nhà khảo cổ Mỹ và Thái mới khởi sự khai quật có hệ thống. Chỉ trong 2 năm họ đã đào bới được 18 tấn di chỉ gồm các dụng cụ bằng đồng, bình chậu sứ, cả đồ dệt và hài cốt trong các ngôi mộ cổ. Nghiên cứu sơ khởi cho thấy đây là một khu làng cổ trên 5 ngàn năm, và có lẽ phát hiện kỳ thú nhất là các vật dụng bằng đồng được đúc cách đây hơn 3600 năm trước Công Nguyên - nghĩa là sớm hơn các đồ đồng xưa nhất của Trung Đông 500 năm. Phát hiện này đã phủ nhận luận cứ cho rằng kỹ thuật luyện đồng khởi đầu từ lưu vực sông Tigris và Euphrates năm 3000 trước Công Nguyên, cũng phủ nhận luôn giả thiết cho rằng đồ đồng là từ Trung Quốc du nhập về Phương Nam [bởi vì đồ đồng cổ nhất của Trung Quốc chỉ mới từ 2000 năm trước Công nguyên]. Như vậy có thể nói rằng kỹ thuật luyện đồng là từ Đông Nam Á du nhập sang Trung Hoa thay vì ngược lại. Đó là chưa kể tới những đồ trang sức cũng bằng đồng rất mỹ thuật phản ánh một xã hội thái hòa có văn hóa cao chứ không ở trình độ man di so với Trung Quốc như người ta vẫn nhận định. Cả về nông nghiệp cũng vậy nữa, với kỹ thuật carbon phóng xạ C14 khảo sát những vỏ trấu còn sót lại trong các bình sứ khai quật được ở Ban Chiang chứng tỏ trên vùng đất Đông Nam Á này đã sớm có một nền nông nghiệp phát triển trước cả Trung Hoa.
Các nhà nhân chủng học đã vẽ lại chân dung của người tiền sử tại Ban Chiang: họ có trán rộng, lưỡng quyền cao với cặp chân dài và khỏe mạnh tuổi thọ trung bình khoảng 30 nguyên nhân tử vong là bệnh tật như sốt rét, có lẽ họ thuộc chủng tộc Hòa Bình (Hoabinhians) từ Thời Đồ Đá đã sinh sống trong vùng Đông Nam Á từ 12 000 tới 5 000 năm trước Công nguyên. Joyce White cho rằng khu làng tiền sử Ban Chiang đã có được một tổ chức xã hội nông nghiệp ổn định từ 8 000 tới 7 500 năm trước Công Nguyên, trong khi dấu hiệu về lúa sớm nhất ở Trung Hoa vùng thượng nguồn sông Dương Tử là vào khoảng 6 500 - 5 800 trước Công Nguyên. Luận cứ ấy càng thêm vững chãi khi Peter Bellwood cho rằng nếu kể tới yếu tố khí hậu thì cái "nôi đầu tiên trồng lúa" phải là vùng nhiệt đới Đông Nam Á Châu Gió Mùa.
Rồi như rơi vào một hố đen (sau này là một hố đen khác trên Cánh Đồng Chum), không rõ nguyên nhân nào từ thế kỷ thứ 2 Ban Chiang trở thành hoang vắng không còn cư dân nào sinh sống nữa. Khép lại trang cổ sử kỳ thú của một vùng đất mà sách vở kinh điển viết về nguồn gốc các nền văn minh hầu như người ta đã hoàn toàn lãng quên - như đã lãng quên một nền văn hóa khác của con Sông Mekong. Trở về Mỹ tin một cột đọc được trên trang nhất của báo Người Việt là vụ nổ trên cầu Mittaphap, nơi mà ít ngày trước đó tôi đã dừng chân nhìn xuống dòng chảy của con sông Mekong để tìm bóng dáng của một con cá Pla Beuk.
songchampls | 15 March, 2010 07:37
LÀO PDR.COM ĐI RA TỪ LÃNG QUÊN
Từ một Xứ Sở Bị Lãng Quên, Lào đang muốn trở thành Xứ Kuwait Thủy Điện của Đông Nam Á.
MỞ LẠI HỒ SƠ LÀO TRƯỚC CHUYẾN ĐI
Từng bị mang tên là "Xứ Sở Bị Lãng Quên - Forgotten Country", gần đây Lào lại đang được biết tới không chỉ qua Du Lịch Sinh Thái - Ecotour với hơn 600 ngàn du khách/năm nhưng còn được chú ý nhiều hơn nữa do tin tức từ bên ngoài về những biến động chánh trị ở Lào. Dĩ nhiên phải từ bên ngoài vì không có tự do báo chí hay đúng hơn không có sinh hoạt báo chí ở Lào. Hai tờ tuần san / bán tuần san Le Rénovateur - Đổi Mới [tiếng Pháp] và Vientiane Times - Vạn Tượng Thời Báo [tiếng Anh] là của Nhà Nước Lào chủ yếu dành cho người nước ngoài.
Bây giờ là tháng 12, thời điểm tốt về thời tiết để viếng thăm Lào (giữa khoảng tháng 11 tới tháng 3): sau đó khí hậu quá khô nóng rồi tiếp theo là Mùa Mưa. Nhưng xem ra thời điểm lúc này lại không tốt về dự báo tình hình chánh trị ở Lào với dồn dập những tin tức:
- Các vụ nổ bom từ Vạn Tượng tới Pakse làm rung chuyển nước Lào. Tướng lưu vong Vang Pao người Hmong phủ nhận trách nhiệm (AFP, 26/07/ 2000).
- Vụ nổi dậy vũ trang bị giấu nhẹm ở vùng núi non Muong Khoun, Lào (AFP, 04/08/ 2000).
- Tin Bộ trưởng Tài chánh Khamsay con trai ông Hoàng Đỏ Souvanouvong tỵ nạn chánh trị bị Lào phủ nhận (AFP, 05/08/ 2000).
- Rồi tiếp theo những tin như: vụ tấn công biên giới Lào Thái với cờ Hoàng Gia Lào; người Mỹ gốc Hmong mất tích trên đường tới Lào; người Hmong đốt chợ ở cây số 52 trên quốc lộ 13 phía bắc Vạn Tượng; đoàn xe chở quân đội Cộng sản Việt Nam di chuyển qua thủ đô Vạn Tượng...
- Bà Ngoại trưởng Albright khẳng định Mỹ không hậu thuẫn phong trào kháng chiến ở Lào, Tòa Đại Sứ khuyên không nên du lịch đường bộ lên phía bắc Vạn Tượng.
- Rồi là cả một bài viết dài đọc được trên Internet viết về "Những Biến Chuyển Tại Lào" với đầy bất ổn.
Chuyến đi của tôi tới với con Sông Mẹ / Mae Nam Khong (tên Lào Thái của con sông Mekong) trong bối cảnh chánh trị địa dư như vậy - không qua Guide Tour không với tính cách một du khách. Hành trang đem theo phải kể cả những dữ kiện đầy ắp của cuộc hành trình 2 năm 24 ngày của Đoàn Thám Hiểm Pháp Doudart de Lagrée / Francis Garnier (Mekong Expedition 1866 - 1868) cách đây hơn một thế kỷ.
Từ nước Mỹ ngay sau Lễ Tạ Ơn - Thanksgiving Day, đang là không khí rộn rã chuẩn bị mừng Giáng Sinh và đón mừng năm mới 2001, năm đích thực đầu tiên của Thế Kỷ 21. Một ngày trước chuyến đi, tôi còn nhận được lời khuyên "bảo trọng" của người bạn làm báo am hiểu tình hình xứ Lào.
TỪ BANGKOK SANG VẠN TƯỢNG
Thái Lan đang rộn rịp mùa bầu cử. Trong chánh trị người dân Thái phân hóa nhưng lòng tôn kính của họ đối với nhà vua luôn luôn là một. Cả nước Thái đang hân hoan làm lễ mừng sinh nhật thứ 72 của quốc vương Bhumibol. The King's 72nd Celebration là dòng chữ có thể đọc được trên tất cả thân tàu của các chuyến bay hãng hàng không Hoàng Gia Thái. Tới Bangkok lúc 2 giờ sáng, phi trường Don Muang vẫn tất bật nhộn nhịp 24 giờ.
Sáng hôm sau bằng chuyến bay Thai Royal International747 với các cô tiếp viên đẹp mịn như tơ (Smooth As Silk, First Time and Every Time) đi Vạn Tượng. Máy bay đầy ắp du khách, cả những Lào kiều từ Mỹ từ Úc lần đầu tiên về thăm quê hương 25 năm sau. Chỉ một giờ bay để đặt chân tới phi trường quốc tế Wattay khang trang và xinh xắn, mới được Nhật Bản xây xong. Không còn những bảng hiệu tuyên truyền kiểu "Nông Công Binh Đoàn Kết Bảo Vệ Chủ Nghĩa Xã Hội". Vạn Tượng cuối năm 2000 đã khác xa với những trang sách của Graham Greene trong Người Mỹ Trầm Lặng (1955).
Từ những thập niên 30, để kiện toàn bộ máy thư lại, chánh quyền bảo hộ Pháp đã đưa rất nhiều gia đình công chức Việt Nam sang Lào, đông tới mức (ngoại trừ kinh đô Luang Prabang)số người Việt tại các thành phố lớn như Vạn Tượng, Savanakhet, Xieng Khouang, Pakse đã trở thành đa số. Các bang hội người Hoa là cộng đồng di dân lớn thứ hai. Thủ đô Vạn Tượng trên đà phát triển nhưng vẫn là một thị trấn nhỏ với những ngôi biệt thự cũ thời Pháp ẩn khuất dưới tàn cây xanh ngày càng ít đi. Sở Ngân Khố cũ trên đường Fa Ngum chỉ còn bốn bức tường vàng với mái đổ nát, rất tương phản không xa đó là Tòa Nhà Trắng uy nghi của chủ tịch nhà nước Lào.
Nhưng từ cái nền phẳng xanh ấy của Vạn Tượng bắt đầu vươn lên những tòa nhà mới cao tầng, các buildings, nổi bật nhất vẫn là các khách sạn 4 sao hàng trăm buồng, nhìn xuống những đường phố tấp nập xe cộ, xe gắn máy Honda, xe Tuk Tuk ba bánh, xe hơi nhỏ và cả những Taxi của công ty Lavi là một liên doanh Lào-Việt.
Vội vã với Đổi Mới, Vạn Tượng từ một thị trấn im ngủ đã như một nàng công chúa choàng thức dậy để đón những hoàng tử đang đổ tới từ Thái Lan. Tấp nập nhất là khu trung tâm quảng trường Nam Phou (với vòi nước phun chỉ có vào ban đêm) với đủ thành phần du khách thuộc nhiều quốc gia nhưng đông nhất vẫn là Tây ba lô.
MAE NAM KHONG - SÔNG MẸ CẠN DÒNG
Bây giờ mới giữa tháng Chạp - vừa hết Mùa Mưa, chưa vào cao điểm Mùa Khô (khoảng tháng 4 tháng 5 ) vậy mà khúc sông Mekong chảy qua Vạn Tượng như đã khô cạn với ngổn ngang những cồn và bãi. Bên tả ngạn phía Lào, từ lầu ba khách sạn Lane Xang nhìn xuống chỉ thấy xanh rờn các bãi trồng bắp trồng chuối lan ra tới 1/3 sông trước khi tới được dòng nước như con sông nhỏ, rồi là cả một giồng cát lớn giữa sông ngăn đôi với một dòng chảy khác bên hữu ngạn phía Thái Lan. Đây đâu phải là hình ảnh đích thực của Con Sông Mekong Dũng Mãnh lớn thứ ba của Châu Á và lớn thứ 11 của thế giới? [như mạch sống của người dân Lào, Cam Bốt cũng như của hàng bao triệu cư dân Việt nơi ĐBSCL]. Nang Ouane, sinh ra và lớn lên ở Vạn Tượng. Chị là người có học hiểu biết, ngoài tiếng Lào tiếng Việt chị còn nói được tiếng Pháp tiếng Anh. Là chuyên viên cao cấp ngành ngân hàng trong số rất hiếm những người Lào học thức còn ở lại sau ngày đội quân Pathet Lao từ các khu hang động Sầm Nứa xuống tiếp thu thủ đô Vạn Tượng. Chị vẫn sống bình dị đời một công chức với tương lai là đàn con 7 đứa trai gái học rất giỏi đã có bốn đi du học ngoại quốc. Đứa con gái lớn của chị tốt nghiệp ngành điện toán ở Úc, nay là người sáng lập mạng lưới Internet phát triển rất nhanh trên đất Lào. Sáng nay từ nhà trên đường tới sở làm, Ngân Hàng Ngoại Thương cũng trên đường bờ sông Fa Ngum, Nang Ouane vận một chiếc váy dệt theo lối y phục cổ truyền của phụ nữ Lào, chị có một vẻ đẹp hiền thục và giọng nói thật thanh thoát:
- Chỉ mới sáu bảy năm trở lại đây thôi con sông Mekong mới khô cạn đến như vậy. Trước đây khúc sông chảy qua Vạn Tượng lúc nào cũng đầy nước, chỉ có khác là mực nước cao thấp trong Mùa Mưa và Mùa Khô chứ đâu có trơ bờ bãi như bây giờ mà mưa thì vẫn vậy.
Thời điểm chị nói trùng hợp với năm hoàn tất con đập Man wan (1993) cao 35 tầng trên thượng nguồn - con đập đầu tiên công suất 1500 MW trong dự án một chuỗi 14 con đập bậc thềm khổng lồ Vân Nam của Trung Quốc (chỉ riêng con đập Manwan này cùng thừa đủ để cung cấp điện cho toàn vùng Vân Nam Quế Châu). Cũng vào năm đó, một hiện tượng được coi là bất thường khi mực nước con sông Mekong đột ngột tụt thấp xuống mà không vào Mùa Khô, chỉ lúc đó thì người ta mới biết là Trung Quốc bắt đầu lấy nước vào hồ chứa con đập Manwan.
Dòng chảy của con sông Mekong nơi hạ lưu sẽ ra sao khi cả chuỗi 14 con đập bậc thềm Vân Nam (khởi đầu 7 nay 14) được hoàn tất trong hai thập niên đầu của thế kỷ 21. Nước trong các hồ chứa không chỉ để chạy các turbines mà còn được dùng để tưới cho những vùng ruộng đất mênh mông vốn khô cằn của Trung Quốc.
Qua Thong Dien, người tài xế Lào gốc Việt cho biếtthêm:
- Em từ vùng giải phóng Xieng Khouang theo gia đình lên sống ở Vạn Tượng từ 1976. Nhà gần sông tụi em thường ngày ra chơi. Em nhớ rõ là hồi đó con sông Mekong rất nhiều nước kể cả Mùa Khô (trong dịp Tết Pimay); còn Mùa Mưa thì khỏi nói con sông nước chảy mạnh là thế nào. Nhưng chỉ có năm bảy năm gần đây thôi khúc sông mới cạn như vậy, bây giờ mới tháng 11 - 12 mà sông đã thiếu nước. Hai mùa mưa nắng thì vẫn thế mà không biết nước chảy đi đâu hết!
Rồi đưa tay chỉ xuống những bãi trồng bắp trồng rau dọc theo con đường Fa Ngum trải dài xuống tới mé sông cạn, Thong Dien tiếp:
- Chỗ ấy trước kia là sông nước chứ đâu có đất mà trồng trọt và cả cất nhà lên như vậy.
Theo tầm tay Thong Dien thì dưới những bụi chuối xanh um còn có ẩn hiện cả mấy túp nhà lá, hắn tiếp:
- Đất phù sa quá tốt nay đem trồng rau trồng bắp hay cả trồng chuối thì cứ gọi là "vô tư".
Ngữ vựng tiếng Việt của tôi tuy không gọi là giàu nhưng cũng không thể bảo là nghèo nàn, hai chữ "vô tư" theo cách dùng của anh tài xế người Lào gốc Việt này rất mới đối với tôi. Vô tư tự nó có nghĩa tốt, không thiên vị nhưng với Thong Dien thì hẳn phải có một ý nghĩa rất khác. Từ nay với tôi, Thong Dien sẽ có tên là anh tài xế Vô Tư. Người Lào và cả nhà nước Lào hầu như vẫn vô cảm trước hiện tượng một con sông Mekong đang ngày một cạn dòng.
Thời gian ở Lào, tôi chưa hề được nghe một ai nhắc tới những con đập bậc thềm Vân Nam. Không lẽ một khúc sông Mekong cạn kiệt như vậy mà lại là nguồn nước cho Biển Hồ và hai con Sông Tiền Sông Hậu nơi Đồng Bằng Châu Thổ?
Trong trí tưởng tôi hiện ra hình ảnh đối nghịch của khúc Sông Tiền hoành tráng đẫm phù sa mênh mông trải rộng tới hơn 3 km, từ bao thế kỷ vẫn ôm ấp và và không ngừng bồi dưỡng cho hàng trăm cù lao lớn nhỏ như cù lao Rồng, cù lao Phụng, cù lao Quy và cù lao Thới Sơn với rượi mát những khu nhà vườn...
Một mai khi cạn nguồn phù sa và nước ngọt để chỉ còn cường triều nước mặn thì đó sẽ là buổi hoàng hôn của nền Văn Minh Miệt Vườn. và cũng để rồi sẽ có một ngày nào đó - đây đó trên khúc sông Mekong sẽ:
Sông kia giờ đã nên đồng
Bên làm nhà cửa bên trồng ngô khoai
Vẳng nghe tiếc ếch bên tai
Giật mình còn tưởng tiếng ai gọi đò... [Tú Xương]
CÁ TRÊN KHÚC SÔNG MẸ
Những ngày ở Vạn Tượng, buổi sáng sớm mai trời còn mát tôi đã có mặt đi bộ dọc bờ sông Mekong theo con đường Fa Ngum - giống như đường bờ sông Sài Gòn. Kể từ 1994 khi có cây cầu Mittaphap bắc ngang qua sông Mekong, không còn cảnh huyên náo thuyền bè tấp nập từ Lào với thúng mủng trống trơn trên đường sang bến cảng Nong Khai phía Thái Lan để khi trở về thì chất đầy hàng hóa từ thời kỳ "Đổi Mới".
Nay chỉ còn thưa thớt trên sông những chiếc thuyền chài nhỏ mà tôi theo dõi từ sáng sớm cho tới khi vào bờ. Để tận mắt thấy từ trên mỗi chiếc ghe, con cá lớn nhất lưới được không hơn một bàn tay, phần còn lại là mớ cá vụn. Không ai có cái xa xỉ thả lại xuống sông những con cá nhỏ ấy để chờ một mẻ lưới lớn hơn ở mai sau (vì đây là nguồn protein trong ngày của một gia đình). Bác ngư dân già vẻ ẩn nhẫn nói: sông ngày càng cạn và cá thì ít đi. Nước con sông Mekong vẫn còn đỏ phù sa nhưng dòng chảy thật chậm. Không có bên lở bên bồi mà chỉ có những bờ bãi hai bên bờ cứ kéo dài ra. Vậy mà người ta còn đưa xe ủi đất tới đắp cao thêm bờ đê, không lẽ để ngăn cả chút gió mát từ dòng sông đã mất hết vẻ dũng mãnh và đang cạn dần.
ĐẬP NAM NGUM 30 NĂM SAU
Nếu Quốc Tự That Luong như một biểu tượng cho lịch sử nước Lào thì đập Nam Ngum cũng là niềm hãnh diện khác của tiến bộ và phát triển của người dân Lào. Hình đập Nam Ngum được in trên bưu thiếp, con tem, trên đồng bạc 50 kip (sau này không còn lưu hành nữa vì nạn lạm phát phi mã ở Lào).
Là con đập thủy điện đầu tiên được xây dựng và hoàn tất rất sớm ngay giữa những năm giông bão của cuộc Chiến Tranh Việt Nam bằng tiền vay của Ngân Hàng Thế Giới và nhiều nước khác. Mỹ cũng đổ tiền thêm vào giúp Lào sớm hoàn tất con đập để có thêm nguồn điện cung cấp cho căn cứ không quân chiến lược Udon lúc đó đang nhộn nhịp hoạt động ở vùng đông bắc Thái.
Năm 1971, đập Nam Ngum hoàn tất giai đoạn một, đánh dấu một thời điểm lịch sử khi hai vua Lào Savang Vathana và Thái Adubjadej Bhumidol cùng gặp nhau trên một con phà lộng lẫy chăng đầy hoa đèn giữa dòng chính sông Mekong "để cùng bấm nút nhấn, cùng một lúc điện và đôla chảy ngược chiều nhau về hai quốc gia Thái Lào".
Phải đi suốt 420 Km đường bộ từ Vạn Tượng tới Luang Prabang, vượt hơn 170 Km đường đèo với núi cao và lũng sâu, để thấy tính đa dạng các sắc tộc Lào ( Lao Lum - Kinh, Lao Theung - Thượng, Lao Soung - Núi) và còn thấy được ánh sáng điện từ con đập Nam Ngum vươn xa tới đâu - tới những thôn bản trên các rẻo cao xa xôi hẻo lánh nhất. Ở một chừng mực nào đó, với từng bước phát triển hài hòa, cùng lúc quan tâm tới bảo vệ sinh cảnh môi trường, thì không thể phủ nhận được là đập Nam Ngum đã thực sự cải thiện đem lại ánh sáng cuộc sống văn minh tới người dân Lào.
Với người Lào hiểu biết tiến bộ, thấy được tiềm năng tài nguyên thiên nhiên của Lào, họ không muốn kìm hãm đất nước họ mãi dừng lại như "một thứ viện bảo tàng các di tích của thời kỳ đồ đá đồ đồng" để mua vui cho du khách. Hồ chứa đập Nam Ngum trải rộng trên một diện tích hơn 250 km2 (lớn hơn 1/ 3 toàn diện tích đảo quốc Singapore), như một thắng cảnh thiên nhiên có vẻ đẹp hùng vĩ với cảnh trí núi non và hàng trăm những hòn đảo lớn nhỏ, tuy không còn thú lớn nhưng vẫn là nơi trú ngụ của khỉ, chút, các loài chim và rắn nước. Còn phải kể tới một cảnh trí lạ mắt khác là vô số những ngọn cây cao hơn 50 mét tua tủa vươn lên khỏi mặt nước do rừng cây chưa kịp khai quang đã bị dìm sâu dưới đáy hồ. Cây không chỉ làm rách lưới ngư dân nhưng còn có thể làm vỡ thuyền bè đụng phải khi di chuyển trên mặt hồ. Các tay lái gỗ Thái không chỉ phá những khu rừng mưa ở Lào mà còn thuê toán người nhái với cưa máy tiếp tục khai thác những cây gỗ quý còn lại dưới hồ. Đám thợ lặn kể lại rằng họ còn bắt gặp những chiếc xe bò và khung nhà của dân làng Na Bon phải bỏ lại khi thác nước đổ ập vào thôn bản của họ. Do làm bằng gỗ tốt nên những nông cụ ấy sẽ còn đó cả trăm năm nhưng mỗi ngày một dìm sâu trong lớp chất lắng từ núi và đảo không ngừng đổ xuống mỗi năm và đang làm cạn hồ.
Nam Ngum trở thành tụ điểm du lịch hấp dẫn với các quán ăn, với thuyền máy du ngoạn trên hồ. Nơi bờ hồ phía nam, nhóm doanh nhân Mã Lai có kế hoạch đầu tư mở khách sạn 4 sao Dan Savanh Nam Ngum Resort 200 buồng, với bãi tắm, sân golf và cả Sòng-Bài-Sinh-Thái / Eco-Casino _ thêm một hình thức đĩ điếm hóa / prostitution từ "sinh thái" của đám con buôn. Không phải là vô lý khi gặp một giáo sư đại học Stanford đang viếng thăm Lào đã có nhận xét và phát biểu:
- Đến một lúc nào đó người dân Lào trở thành "công dân hạng hai - second class citizen" ngay trên đất nước họ.
Cá trong hồ là nguồn lợi tức cho ngót 4 ngàn ngư dân quanh vùng với lượng cá đánh được trước đây lên tới 850 ngàn tấn mỗi năm nhưng cá ngày càng ít đi do lối đánh cá "lùng và diệt" bất kể cá lớn nhỏ với lưới, súng hơi và cả điện xoẹt. Để bù lại, người ta bắt đầu trồng thêm chuối trên các đảo: những trái chuối ngự vàng óng thơm ngon bán rẻ cho khách không phải từng nải mà là từng buồng. Buổi sáng khi ghe chài ra hồ cũng là lúc mấy chiếc ghe khác từ ngoài đảo đưa chuối vào bờ. Cũng chẳng thể ngờ rằng ngay từ 1975 người Cộng Sản Lào đã có "vận dụng sáng tạo" là dùng hai đảo lớn giữa biển hồ để biến thành "trại lao cải - reeducation camp" cho những thành phần xã hội mà họ gọi là "cặn bã của tư bản" bao gồm gái điếm, trộm cắp, thiếu niên du đãng... có lẫn tù chánh trị hay không trong đám tù hình sự đó thì chỉ có chính nạn nhân mới tự biết.
Ngồi trên chiếc tàu sắt thô sơ chạy bằng máy dầu cặn, vỏ tàu sắt thì vẫn an toàn hơn tàu gỗ khi chọn đi vào vùng hồ còn tua tủa những ngọn cây gỗ trắc _ cứ như trận địa Bạch Đằng Giang của Ngô Quyền đánh quân Nam Hán thuở nào.
Tenoi Laxami là tài công cũng là chủ tàu, vẻ hiền lành như mọi người dân Lào. Tuổi chỉ mới ngoài 30, khi các kỹ sư Nhật Bản bắt đầu tới khảo sát khu xây đập Nam Ngum thì Laxami chưa chào đời. Anh không phải gốc dân làng Na Bon nên không biết những thôn bản nằm dưới đáy sâu hồ ra sao nhưng cảnh quan của đập Nam Ngum ngày nay thì lại quá thân thuộc với anh từ tấm bé.
Với số câu tiếng Lào mới học chỉ đủ cho xã giao du lịch nhưng tôi có thêm được Thong Dien, tài xế người Lào gốc Việt đã rất hoạt bát thông dịch. Vượt được hàng rào ngôn ngữ rồi thì tôi cũng có nhiều điều để giúp Laxami và Thong Dien hiểu thêm về lịch sử những giai đoạn hình thành con đập Nam Ngum.
Buổi sáng 9 giờ, trên mặt hồ phía tây vẫn phủ dầy một lớp sương mù. Giờ này thì Tây Ba lô - những con cò ăn đêm ấy, chắc còn đang ngủ. Quán Nam Ngum cũng mới mở cửa. Sabai dee! Mấy cô gái Lào tóc đen láy búi cao trên chiếc cổ trắng ngần cũng mới tới quán và bắt đầu bắc nước sôi lên bếp. Thong Dien kêu ly "cà phê sữa nóng - kafeh hawn", riêng tôi thì kêu ly "kafeh dam baw sai nâm tan - cà phê đen không đường". Bánh mì baguette, cà phê sữa do người Pháp du nhập nay trở thành rất phổ biến và được mọi người dân cả ba nước Đông Dương ưa chuộng.
Một nhà thủy tạ trắng 2 tầng vươn lên giữa hồ, nơi để du khách có tầm nhìn toàn cảnh con đập và đứng chụp hình. Laxami nói:
•- Nhà thủy tạ ấy vốn cao 3 tầng nhưng nay chỉ còn 2 do mực nước hồ dâng cao, chỉ mới đây thôi.
Tôi chợt hiểu rằng từ 1971, sau ngót 30 năm một phần hồ bị chất lắng từ núi đổ xuống làm cho cạn, cộng thêm với kế hoạch tăng công suất đập thủy điện Nam Ngum từ 30 tới 150 MW nên mực nước trong hồ dâng cao hơn.
Thấp thoáng từ xa là những chiếc ghe chài. Họ ra hồ từ sáng sớm. Laxami nói:
- Số cá đánh được ngày càng ít đi. Cách đây mấy năm, công chúa Thái Lan Maha Chakri Sirindhorn có tới đây làm lễ thả xuống hồ hơn một trăm con cá Pla Beuk (loại catfish khổng lồ hiếm quý của sông Mekong, được các nhà ngư học Thái gây giống nhân tạo) nhưng cho tới nay chưa ngư dân Lào nào lưới được một con cá Pla Beuk trong hồ. Là loại cá của sông sâu với dòng chảy, mỗi năm vượt hàng ngàn dặm lên thượng nguồn để đẻ trứng, nay đem thả trong hồ liệu có bao nhiêu con cá Pla Beuk trong số đó còn sống sót?
Tàu chậm lại để tiến gần tới một ghe nhỏ của cặp vợ chồng ngư dân già. Mươi con cá mỏng manh bằng lòng bàn tay mới lưới được nằm phơi bụng trong lòng thuyền. Laxami bảo nếu đem mớ cá ấy ra chợ bán cũng được 7000 kip - chưa tới một đôla nhưng đủ cho hai vợ chồng sống qua ngày với bữa ăn chủ yếu là một trõ xôi nếp với muối ớt đâm Padaek.
- Nghe nói mấy tháng nữa nhà nước ra luật cấm đánh cá bằng lưới mắt nhỏ và điện xoẹt để bảo vệ nguồn cá trong hồ.
Ra luật và thi hành vẫn còn là một khoảng cách đại dương trên xứ Lào (cấm thuốc phiện, cấm phá rừng, bảo vệ nguồn cá...).
Với Laxami thì cái gì thuộc hồ Nam Ngum cũng có một lịch sử một giai thoại. Chỉ dãy núi xanh sẫm chạy dài bên hữu ngạn, Laxami nói:
- Đó là Pu Mụt - núi tối, do núi luôn luôn có màu tối sẫm cho dù ngày nắng, đó như trạm dự báo thời tiết cho ngư dân đi hồ: mưa gió hay bão táp bao giờ cũng đến trước với rặng
núi tối, tới trước rất lâu trước khi lan ra khắp mặt hồ.
Laxami tiếp:
- Ngày gió lớn, sóng trên hồ cao tới hơn 1 mét đủ để lật ghe thuyền nhỏ, đã có một ngư nhân gốc Việt, ông Trần cách đây ít lâu bị lật ghe chết mất vợ và con, sau đó ông ta bỏ nghề về sống ở Vạn Tượng nhưng thỉnh thoảng vẫn trở lại thăm.
Rời dãy núi tối, con tàu đi qua những đảo lớn nhỏ với những những cái tên thơ mộng khác: Pu Padang Nang Non / cô gái đang ngủ, Pu Kao Nang / núi chín cô, Pu Eng / rặng núi cong và Pu Huot / núi trõ xôi...
Nhà khách Xantiphap - Hòa Bình, là một khu nhà gỗ trên đảo dành cho khách du lịch có thú quạnh hiu chọn qua đêm giữa cái mênh mông của biển hồ.
Laxami đã không tìm được một cái tên tượng hình thơ mộng nào cho hai hòn đảo có trại cải tạo: Đỏn Thao (đảo chàng) và Đỏn Nang (đảo nàng) - như một thứ ổ tội ác - Lao Sodom, với cả đồn công an trên đó.
- Nghe nói trên đó có giam cả viên chức ngụy?
Lớn lên từ Vùng giải phóng Cánh Đồng Chum, cách mạng và ngụy là từ ngữ quen thuộc củaThong Dien. Laxami trả lời thật đôn hậu:
- Ngụy hay không nhưng đã là người tốt thì giống nhau!
Một dân tộc Lào nổi tiếng hiền lành như vậy mà đã dứt chế độ quân chủ của họ với vua, hoàng hậu và hoàng thái tử đều chết trong trại cải tạo nơi vùng hang động Sầm Nứa.
Trở lại với con đập Nam Ngum, đã 30 năm rồi, người dân nghĩ sao về con đập?
Laxami phát biểu giản dị và công bằng:
- Chẳng thể nào vui được nếu là dân làng Na Bon mất hết nhà cửa ruộng vườn quê cha đất tổ của họ. Nhưng nói chung dân trong vùng được hưởng tiện nghi có điện, hồ có cá, thêm lợi tức do du khách đem tới và hàng ngày gặp gỡ, chúng tôi cũng được tiếp xúc với tiến bộ và văn minh.
Nhưng rồi Laxami hiểu rằng đến một ngày nào đó hồ Nam Ngum cũng sẽ bị cạn vì đất núi đổ xuống. Anh cũng không dấu được vẻ lo sợ khi kể lại là:
- Các ông già bà cả thì còn sợ rằng làm con đập như vậy là xúc phạm tới thần linh [phi] có thể bị trừng phạt.
Laxami muốn nói tới một trận động đất với cả cơn hồng thủy sẽ cuốn trôi hết làng mạc và dân cư trong vùng. Tin hay không tin ở thần linh thì "động đất do hồ chứa- reservoir triggered seismicity" cũng không phải là không có cơ sở khoa học.
TỪ NAM NGUM TỚI ĐIỆN KHÍ HÓA NƯỚC LÀO
Sang đầu thế kỷ 21, theo Bộ Điện Lực Lào thì vẫn còn 19 huyện trong tổng số 121 huyện trên toàn quốc phải sống trong cảnh không điện. Đó là những làng mạc xa xôi hẻo lánh gần biên giới, giao thông khó khăn nên dân chúng vẫn phải sống trong cảnh tối tăm cho dù Lào là nước xuất cảng điện sang các nước láng giềng.
Là một xứ sở núi non, ngoài con sông Mekong vẫn được coi là dũng mãnh với các phụ lưu, Lào còn có vô số những con sông nhỏ; do đó Phân Bộ Điện Lực Lào đang có kế hoạch phát triển thêm các đập thủy điện ‘bỏ túi' trên những khúc sông nhỏ nhằm đem lại tiện nghi ánh sáng cho người dân Lào. Từ 1975 nhà nước Lào đã sở hữu 3 đập thủy điện: Nam Ngum 30 MW thuộc tỉnh Vạn Tượng, Nam Dong 1 MW tỉnh Luang Prabang và Sélabam 2 MW tỉnh Champassak. Nguồn thủy điện ấy chủ yếu chỉ để phục vụ các thành phố lớn. Chánh phủ Lào đã vay thêm ngoại tệ để tăng công suất cho các nhà máy thủy điện đã có sẵn và xây thêm con 2 đập mới. Cho tới năm 2000, Công Ty Điện Lực Công Cộng Lào đã có 5 đập thủy điện với công suất tổng cộng lên tới 270 MW. Đập Nam Ngum tăng từ 30 tới 150 MW, đập Selabam từ 2 tới 5 MW, riêng đập Nam Dong thì vẫn giữ công suất 1 MW. Có thêm 2 đập thủy điện mới Sexet 45 MW ở tỉnh Savannakhet và NamLeuk 60 MW ở tỉnh Bolikhamsay. [Lào vẫn còn phải sử dụng2 nhà máy nhiệt điện chạy bằng xăng dầu: một ở Vạn Tượng công suất 8 MW, một ở Luang Prabang 1 MW]. Dĩ nhiên trên đất nước Lào còn những đập thủy điện lớn khác như:
Houay Ho 150 MW, Nam Theun Hinboun 210 MW... nhưng là của công ty ngoại quốc hay liên doanh với chánh phủ Lào dưới dạng BOOT (Build/ xây, Own/ sở hữu, Operate/ khai thác, và Transfer/ chuyển nhượng).
Trong mấy năm qua Lào đã xuất cảng 644 triệu KWH sangcác nước láng giềng Thái Lan và Việt Nam nhưng vẫn phải nhập cảng 163 triệu KWH cho các vùng xa xôi gần biên giới do địa hình khó khăn để thiết lập đường dây cáp cao thế vận chuyển điện. Như điện tỉnh Sầm Nứa là từ con đập thủy điện Hòa Bình.
Phải kêu gọi dân chúng Lào tiết kiệm điện để xuất cảng vẫn là một khẩu hiệu trên một đất nước được mệnh danh là "xứ Kuwait thủy điện của Đông Nam Á".
160 KM ĐƯỜNG BỘ LÊN VANG VIENG
Rời đập Nam Ngum theo đường số 5 ra quốc lộ 13, cảnh trí hai bên bờ sông một màu xanh tươi bát ngát. Hai bên đường rải rác những căn nhà gạch mới - không còn là nhà sàn, đang được xây cất, do tiền từ ngoại quốc gửi về. Thong Dien chỉ mấy con trâu đang lội qua sông, nói:
- Những con trâu mập thế kia mà sao xuống nước vẫn cứ nổi, em từng chăn trâu và để trâu lội qua sông cứ gọi là "vô tư"...
Đến đây thì chữ vô tư lại có nghĩa khác, của một trạng từ. Đi một ngày đàng học một sàng khôn. Ngữ vựng tiếng Việt của tôi hẳn được giàu thêm qua một chuyến đi Lào.
Đường lên Vang Vieng, cảnh rất thường gặp là mấy cô thiếu nữ Lào xinh đẹp bận váy thay vì Jean chạy xe Honda, thỉnh thoảng còn gặp một đầu máy kéo chở đầy người đi chợ như một phương tiện giao thông khác của người dân Lào - cảnh tượng giống như ở Vân Nam. Heo, gà vịt ngan, kể cả gà tây turkeys với mào đỏ rực được thả chạy rong trên đường. Thong Dien tiếp:
- Trâu bò ở đây mập mạp khỏe mạnh lại rất ít phải lao động, cũng nhàn nhã như người dân Lào, rơm cỏ lại nhiều cứ gọi là ăn uống "vô tư".
Nếu bánh mì baguette với cà phê sữa đặc như dấu ấn ảnh hưởng của văn hóa Pháp thì hẳn những chú gà tây turkeys sống sót trong dịp lễ Thanksgiving trước đây nơi Cây Số Sáu [Six Clicks City] có lẽ là di sản duy nhất tốt đẹp ngoài rất nhiều bom đạn chưa nổ mà người Mỹ còn để lại trên xứ Lào. Trên khúc đường đèo đầy nắng gió, thỉnh thoảng lại gặp mấy cô gái Hmong rất trẻ mà đã làm mẹ với địu con trên lưng. Những đứa trẻ nhỏ xíu thiếu cân ấy nếu sống sót qua được 5 tuổi giữa thiên nhiên khắc nghiệt, chúng sẽ rất sớm trở thành những chiến sĩ của rừng xanh. Dưới trướng của ông tướng Vang Pao, giữa cuộc Chiến Tranh Việt Nam đã không thiếu những tay súng Hmong còn ở tuổi vị thành niên nhưng rất can trường xông tới phía trước làm bia đỡ đạn để rồi họ cũng bị người Mỹ
bỏ rơi lại phía sau trên những Núi Đồi Bi Thảm. Trên một thửa ruộng trơ gốc rạ gần chân núi là cảnh mấy nông dân Lào đang dùng đầu máy để cầy lật những luống đất. Sau điện khí hóa với các đập thủy điện, bước đầu kỹ nghệ hóa với nhà máy xi măng, nhà máy Pepsi và Bia Lào (rất nổi tiếng) nay tới bước cơ giới hóa nông nghiệp là nét phát triển
mới của xứ Lào. Vang Vieng, vốn là một thị trấn rất nhỏ vùng cao nằm phía bờ đông của con sông Nam Xong với phía tây là rặng núi đá chập chùng như một bức tường thành có nhiều hang động và đang trở thành một tụ điểm càng ngày càng thu hút nhiều du khách. Dân trong vùng chủ yếu là người Hmong, người Yao. Nguyên là một địa danh nổi tiếng trong thời kỳ Chiến Tranh Việt Nam, với một đường bay ngắn STOL (Short Takeoff and Landing) đã từng hoạt động tấp nập trong cuộc chiến tranh bí mật của CIA ở Lào, được biết tới với cái tên Lima Site 6. Nay vẫn còn đó một phi đạo trống trải với các bồn xăng bỏ hoang phế.
Vang Vieng mùa này đang tấp nập du khách, họ tới đây để leo núi thăm hang Tham Cheng, rồi tắm suối, bơi sông, chèo thuyền và cả hút thuốc phiện rất dễ kiếm trong các thôn bản người Hmong với giá thật rẻ. Những cô gái Lào bụi đời cặp đôi với các ông Tây Ba lô không còn là cảnh hiếm thấy. Gần khu chợ, đã kịp thời mọc lên vô số những nhà khách/ guesthousesrẻ tiền từ 1 đôla một đêm. Nhưng cũng không thiếu khu nghỉ mát sang trọng Vang Vieng Resort với bungalows kiểu Anh chủ yếu phục vụ những doanh nhân Tàu Đài Loan Hong Kong Singapore đang kiếm tiền như nước trên đất Lào. Cả một dòng suối trong như thủy tinh chảy ra từ chân ngọn núi đá, nơi lý tưởng để thả mình vào thư giãn. Nhìn từ xa con sông Nam Xong thì vẫn cứ là một màu trong xanh và lung linh trong ánh nắng. Một đất nước chỉ bằng 1/3 diện tích bang Texas, không chỉ với nạn phá rừng tự sát và khai thác thủy điện khắp nơi, rồi ra với ngót 1 triệu du khách mỗi năm trong thập niên tới, thì mọi con suối mọi dòng sông và sinh cảnh thiên nhiên núi non vốn trinh nguyên của Lào sẽ mau chóng trở thành quá khứ. Giống như Việt Nam, Lào đang Đổi Mới với cái giá rất cao phải trả về môi sinh cho các thế hệ tương lai. Không chỉ ở Vạn Tượng hay Luang Prabang, ngay tại thị trấn rất nhỏ Vang Vieng này, các quán Café Internet lúc nào cũng đông khách ngoại quốc. Quản lý mạng lưới Internet này là đám thanh niên sinh viên Lào rất năng động và nói được tiếng Anh.
Tim tên người Mỹ gốc San Francisco, được giới thiệu như một "nhà văn - writer" làm "part time" trong 1 quán Café Internet đã nói với tôi:
- Thật hết sức ngạc nhiên (amazing - chữ của Tim) chỉ mới 2 năm trước đây thôi, Internet còn bị coi là illegal ở Lào, vậy mà bây giờ thì Café Internet tự do mọc ra khắp nơi. Vào một quán Internet như vậy với cà phê miễn phí, lên lưới tính theo giờ giá rất phải chăng (rẻ hơn cả ở Mỹ), lại có post cards đẹp với tem hộp thư gửi tại chỗ và những chiếc Tshirt với hàng chữ LaoPDR.com.
Từ nay nước Cộng Hòa Dân Chủ Nhân Dân Lào - Lao People's Democratic Republic đã có một địa chỉ trên thế giới ảo - virtual world để bước vào Thế Kỷ 21 - Thế Kỷ Toàn Cầu Hóa.
LUANG PRABANG CON ĐƯỜNG VƯƠNG GIẢ
Từ Kasi cũng theo quốc lộ 13 về hướng bắc là hơn 170 Km đường đèo hẹp dốc và ngoằn ngoèo, cũng để thấy được đủ cảnh trí của núi cao và lũng sâu. Vào đầu thập niên 40, người Pháp bước đầu hoàn tất con đường nối Vạn Tượng với cố đô Luang Prabang (Old Roya Route) nhưng sau đó thì bị hư hại hoàn toàn trong thời gian chiến tranh, đến thập niên 60 được Mỹ sửa chữa lại nhưng sau 75 lại bị đứt đoạn hư hỏng. Phải mãi đến năm 1996, với sự giúp đỡ của Việt Nam đoạn đường này mới được phục hồi sau rất nhiều gian khổ của những toán công nhân làm đường Việt Nam và cả cái giá cao phải trả về nhân mạng (ít nhất có khoảng 20 người bị phiến quân phục kích giết, chưa kể số tai nạn lao động).
Ngày nay để đi từ Vạn Tượng tới Luang Prabang nếu là một chuyến đi suông sẻ chỉ trong một ngày thay vì ba ngày đường như trước kia. Cũng vẫn quốc lộ 13, khúc từ Luang Prabang tới Côn Minh lại do các toán công binh cầu đường Trung Quốc đảm trách
Như ảnh hưởng "vùng da beo" Lào được sự giúp đỡ từ nhiều quốc gia nhưng đáng kể nhất là Việt Nam, Trung Quốc và Nhật Bản. Phải thấy sự lớn lao của Cung Văn Hóa ở trung tâm thủ đô Vạn Tượng do Trung Quốc xây tặng rồi tới Viện Bảo Tàng Kaysone Phomvihane ở "Cây Số 6" do Việt Nam vừa hoàn tất với tổn phí hơn 4 triệu đôla tài trợ không bồi hoàn mới thấy nét phô trương tranh giành ảnh hưởng của hai quốc gia láng giềng này trên đất Lào.
Tưởng cũng nên mở một dấu ngoặc về địa danh "Cây Số 6" - được biết tới với cái tên "Six Clicks City" giữa cuộc Chiến Tranh Việt Nam, là khu riêng biệt của người Mỹ như một ốc đảo với những bungalows nhà ở, trường học, hồ bơi, sân quần vợt, rạp chiếu bóng, quán ăn, tiệm rượu và cả phòng tắm hơi. Dĩ nhiên trong vòng rào kẽm gai kiên cố ấy có cơ quan USAID, tòa đại sứ Mỹ như một trung tâm quyền lực và cả một bộ phận CIA điều khiển cuộc chiến tranh bí mật ở Lào. Một nước Lào như Bernard Fall nhận định, đã không được coi là một thực thể địa dư chủng tộc hay xã hội mà thuần chỉ là một tiện nghi chánh trị. Sau 1975 không còn người Mỹ thì cũng chính nơi đây trở thành tổng hành dinh của chủ tịch Kaysone Phomvihane cho tới ngày ông mất 1992 và nay là Viện Bảo Tàng. Ông Hoàng Đỏ Souvanouvong được biết tới nhiều hơn nhưng người thực sự tổ chức đảng Cộng Sản Lào là Kaysone Phomvihane xuất thân trường Đại Học Luật Khoa Hà Nội từ 1942, đã khéo léo lãnh đạo lực lượng Pathet Lào trong suốt hơn 40 năm cho tới khi thống nhất toàn nước Lào 1975. Ngày khánh thành Viện Bảo Tàng mang tên ông 13/12/2000 tờ báo Le Rénovateur đã vinh danh ông là Chiến Sĩ Nhân Dân mà người dân Lào sẽ không bao giờ quên: Le soldat du peuple.Nous ne t'oublions jamais!"
Đoạn quốc lộ do Việt Nam làm khá tốt nhưng cũng thật là khó mà bảo rằng di chuyển trên đoạn đường ấy là an toàn. Nhân viên Liên Hiệp Quốc và của các tổ chức thiện nguyện nước ngoài vẫn được khuyên không nên dùng con đường bộ này vì nhiều đoạn mất an ninh với xe bị chận cướp và cả hành khách bị giết.
Cách đây không lâu, Luang Prabang đã bị đặt trong tình trạng giới nghiêm do vụ một sĩ quan Hmong nổi loạn bắn chết cảnh sát, viên chức nhà nước và cả phục kích giết các công nhân làm đường Việt Nam. Có nhiều giả thiết về một biến cố nhất thời như vậy. Bên ngoài thì nhìn như dấu hiệu lớn mạnh của phong trào chống Cộng mà người Hmong là lực lượng chủ chốt. Phía nhà nước Lào thì giải thích đây chỉ là phản ứng riêng lẻ của một sĩ quan bất mãn bị giải ngũ mà trợ cấp hưu bổng thì quá ít oi. Thêm cách giải thích khác của chánh quyền Vạn Tượng là đổ lỗi cho "bọn xấu" gây ra. Nguyên nhân gì đi nữa thì cũng đã có đổ máu - có cả máu của người Việt. Không ai có thể đoan chắc điều gì khi chọn di chuyển trên Con Đường Vương Giả ấy. Làm sao mà không lên ruột khi giữa những đoạn đèo cao heo hút ấy thỉnh thoảng lại xuất hiện mấy người lính da cháy nắng đen đủi ăn mặc tùy tiện với súng AK hay súng kíp, chẳng biết thuộc phe nào làm dấu vẫy gọi cho xe dừng lại. Chuyện gì đây, chỉ để xin thuốc hút, đòi tiền mãi lộ hay còn đi xa hơn nữa. Cái gì xảy ra lúc ấy thì cũng dễ dàng ngụy trang như một tai nạn xe lật đèo và bao giờ có người biết tới thì cũng khó mà nói trước. Cho dù viên sĩ quan Hmong ấy đã bị bắt, đi tù cải tạo ở đâu thì không ai biết nhưng các vụ tấn công lẻ tẻ trên con đường ấy vẫn cứ xảy ra, dư luận thì cho rằng có thể vẫn do số người Hmong có vũ trang được CIA bí mật hỗ trợ trong cuộc chiến tranh Việt Nam có liên can.
Chiếc xe vẫn ngon trớn đổ dốc, đang nơi một khúc quặt với cả khối đá tảng che khuất phía trước thì gặp mấy người lính có đeo súng AK và cả M16 vẫy chặn, vẫn tươi cười đưa tay vẫy gọi nhưng đồng thời tài xế Vô Tư lại nhấn lút ga cho xe chạy luôn. Đoạn đường bỏ lại phía sau vẫn yên tĩnh. Quyết định nào là đúng? Không bao giờ có được câu trả lời dứt khoát. Tôi thì nghĩ tới sự may mắn. Tỏ vẻ quá quen thuộc trên đoạn đường đèo này, tài xế Vô Tư nói:
- Em quên mua thuốc lá để trong xe, có dừng lại cũng chẳng có gì nộp cho mấy ông ấy.
Rõ ràng Vô Tư muốn trấn an tôi rằng vụ chặn xe kia đơn giản chỉ là để xin thuốc hút. Thì cứ tin là như vậy và tôi thì không muốn là một Bernard Fall thứ hai, ngã xuống không
phải trên Con Đường Phố Buồn Tênh / Street Without Joy ở Việt Nam mà lại là trên Con Đường Vương Giả của xứ Lào được coi là đang trong thời bình.
Đặt chân tới Luang Prabang tôi mới được cho biết là một lầm lẫn khi xe lên đèo vào sẩm tối, trở thành mục tiêu rất dễ bị theo dõi bằng đèn. Rút kinh nghiệm bằng chuyến trở về
khởi hành thật sớm nhưng còn tệ hại hơn, xe lại phải đổ đèo thật chậm cũng với đèn nhưng trong một biển dày đặc sương mù với tầm nhìn không xa hơn 3 mét. Nếu không mất an ninh thì Con Đường Vương Giả ấy sẽ là đoạn đường ngoạn cảnh - scenic route tuyệt đẹp của đất nước Lào. Đâu có thua gì cảnh trí tuyệt vời của con đường Đèo Hải Vân từ Đà Nẵng ra Huế mà Paul Théroux từng đánh giá là đẹp nhất thế giới.
VISIT LAOS YEAR 2000
Một đất nước bao gồm nhiều sắc tộc, lại giàu tính lịch sử văn hóa và nghệ thuật, cộng thêm với cảnh trí thiên nhiên nhiều núi non, rất giàu những ngọn suối và cả con sông Mekong vốn dũng mãnh như mạch sống của đất nước Lào. Du lịch sinh thái - Ecotour trở nên hấp dẫn và đang nhanh chóng phát triển thành kỹ nghệ tạo sức bật cho nền kinh tế
Lào. Thay cho chánh sách đóng cửa, quyết nghị của Đại Hội 4 Đảng Cách Mạng Nhân Dân Lào là cả một bước ngoặt: "Du lịch là nguồn lợi tức và là thành tố quan trọng để mở mang xứ sở và được coi là một trong tám chương trình phát triển ưu tiên của Lào".
<songchampls | 05 March, 2010 08:49
Trên đường về phương nam, mỗi khi tới một ngã ba, Wu phải dừng xe để hỏi đường. Dân địa phương có người không biết đến tên Manwan, có người biết thì cũng không rõ ở đâu. Wu nói thông thạo thổ âm địa phương, lại kiên nhẫn nên rồi cũng lần dò ra đường đi. Xe chạy qua những làng mạc, những thửa ruộng lúa chín vàng. Mỗi gia đình nay được sở hữu một khoảnh ruộng riêng, chẳng cần thi đua bình bầu nhưng ai cũnglàm hết sức mình. Xây được nhà mới, có thêm được chiếc tủ lạnh hay TV hay không là do chính bàn tay tạo dựng của họ. 
Trẻ con thì ăn mặc lành lặn cắp sách tới trường đi học, không có cảnh trẻ đi chân đất như ở Đồng Bằng Sông Cửu Long. Trai hay gái thì tôi hiểu rằng đây là "những đứa con độc nhất" trong mỗi gia đình. Mà người Trung Quốc như từ bao giờ, vẫn thích đông con. Vợ chồng Wu cũng chỉ có một con gái. Tôi hỏi điều gì sẽ xảy ra nếu vợ anh muốn có một đứa con thứ hai. Không thể nào có được, hoặc nếu muốn thì phải trả giá rất đắt cho lựa chọn ấy. Kiểm soát dân số để phát triển, cưỡng chế cả 1.2 tỉ người Trung Quốc "mỗi gia đình chỉ có một con" không phải là điều dễ làm nếu không phải là một nhà nước toàn trị. Vẫn còn thấy vài đứa trẻ được quàng khăn cổ đỏ, nhưng trên lưng thì lại mang backpack "Mickey mouse", Wu giải thích đó là số học sinh xuất sắc. Hình như những gì đang diễn ra ở Việt Nam chỉ là một phó bản hạng hai rập khuôn Trung Quốc nhưng lại chậm hơn 20 năm. Và không thể không nhớ lại câu phát biểu của ông Lê Khả Phiêu Tổng bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam đã làm nhiều người Việt phải chau mày: "Nếu Trung Quốc thành công trong đổi mới, chúng ta sẽ thành công. Nếu Trung Quốc thất bại, chúng ta sẽ thất bại."[FEER, 06/ 22/ 2000].
Đến xế trưa, được kể là qua được một nửa chặng đường, một đoạn đường tương đối dễ đi. Bây giờ mới là lúc xe leo đèo, trước mặt chỉ còn là một con đường "độc đạo", cứ hết lên triền cao lại xuống lũng sâu. Đường thưa xe nhưng là đường chạy hai chiều, hẹp và vòng vèo, giống như đoạn đường từ Vang Vieng đi Luang Prabang ở Lào. Đường thì hẹp nhưng xe nào cũng muốn thênh thang chạy giữa con lộ, như không hề biết có xe ở phía trước, nhưng khi đối đầu nhau rồi thì chỉ còn là gang tấc. Yếu bóng vía mà lại còn nhìn xuống lũng sâu thì chẳng còn bụng dạ nào để muốn đi tiếp cuộc hành trình chưa biết bao giờ sẽ tới ấy. Wu tay lái thật cứng mỗi khi phải đối đầu với những tình huống thật xít xao, hắn bảo an toàn trước đã, nói như cũng để trấn an khách. Tin cậy ở Wu nhưng tôi cũng hiểu rằng không thể có an toàn chỉ ở một phía. Không lẽ đã qua được những năm thử thách của chiến tranh trận mạc, nay lại để bị sa vực vì một trận Gió Đông, tôi muốn nói tới những chiếc xe tải nặng Dong Feng chạy rất vong mạng trên các ngả đường Vân Nam. Bầu trời vần vũ mây đen, có mưa lớn ở phía trước, xe phải chạy thật chậm lại khi qua những đoạn đường đá lở. Bây giờ thì mới thực sự thấy sót cho chiếc xe của Wu. Là xe chạy trong thành phố chứ không phải để leo núi, để phải cán lốp xe trên những tảng đá sắc hay sụp trên các ổ gà sâu đến đụng sàn. Chắc Wu cũng không hề tiên liệu phải chạy qua những chặng đường tồi tệ như thế. Wu khoe thành tích đã từng chạy qua những đoạn đường dài xấu hơn nhiều, đã từng đưa du khách người Pháp người Đức cũng bằng chiếc xe này chạy 10 ngày đêm từ Côn Minh tới thủ đô Lhasa Tây Tạng. Tuổi trẻ, tự tin,lạc quan - phải chăng đó là tương lai của Trung Quốc?
Lại thêm bình xăng gần như trống trơn, kim đụng chữ E nhưng Wu thì vẫn tự tin bảo rằng còn dư xăng để chạy một chặng đường xa nữa. Ở cao độ 2,500 mét, chiếc xe nhỏ vẫn vòng vèo leo dốc. Đâu phải trên đường bằng, xe lên dốc sẽ tiêu thụ xăng nhiều hơn. Tôi bảo Wu như vậy. Không bướng bỉnh nhưng Wu vẫn tìm một lối giải thích lạc quan: nhưng khi xe đổ dốc sẽ tiêu thụ nhiên liệu ít hơn. Đó là chỉ là lý luận của một thầy giáo dậy Toán, mà toán thì chỉ có thuần lý chứ không phải là đời sống thực. Nhưng rồi Wu có lý, xe cũng bò tới được một trạm xăng nhỏ, phải trả một giá đắt hơn nhưng mọi người thì yên tâm với một bình xăng đầy.
Như Đi Về Nơi Hoang Dã chỉ thấy một màu xanh um của những khu rừng mưa / rainforest trên các triền núi và cũng hiểu vì sao ít có người dân Vân Nam biết tới con đập Manwan. Những cột điện thật lớn với hàng dây cáp cao thế giăng qua những sườn núi là dấu hiệu cho thấy chúng tôi đã tới gần con đập. Đồng hồ chỉ cây số cho biết cũng còn khoảng 40-50 km nữa. Vẫn còn những đoạn đường vỡ mà chiếc xe phải vất vả vượt qua. Xe chạy qua một thác nước nhỏ rào rào đổ xuống từ triền núi cao, những hạt bụi nước trắng chỉ đủ làm ướt mặt con lộ. Từ đây, nhìn xuống thung lũng chạy giữa hai dãy núi là thấy cả một hồ chứa lớn của con đập Manwan phản chiếu ánh nắng lấp lánh. Còn quá xa để nhìn thấy chi tiết đâu là con đập. Qua một làng núi nhỏ, xe bắt đầu đổ dốc theo một con đường hẹp để đi vào một thung lũng. Wu lại phải dừng lại trước một khóm nhà để hỏi đường và được biết là đi đúng hướng. Ngăn cách bởi những bụi rậm, nhưng khi nghe tiếng nước rì rào chảy là biết tới gần dòng sông. Rồi con sông hiện ra, nhìn ngược dòng chảy tuy còn khá xa nhưng đã có thể thấy được bóng dáng của con đập.
Còn phải qua một cây cầu sang bên tả ngạn mới thực sự đi vào khu công trường của nhà máy thủy điện Manwan. Ngay nơi đầu cầu là một cột mốc lớn với 2 hàng chữ: YUNXIAN - MANWANZHEN [Vân Huyện - Mạn Loan Trấn]. Hai bên đường là những căn nhà nhỏ, nhà ở xen lẫn vài tiệm tạp hóa và mấy quán ăn. Nơi cổng vào có trạm lính canh, trên bức tường thành là một bảng hiệu uy nghi với hai hàng chữ Hán và Anh sáng chói "YUNNAN MANWAN POWER GENERATING Co. Ltd". Nơi mặt tiền là những tòa nhà công sở nhiều tầng lớn khang trang; sâu hơn vào phía trong là câu lạc bộ công nhân, khu cư xá nhân viên gồm những tòa nhà 3-4 từng trên lưng đồi. Có cả một nhà nghỉ điều hành như khách sạn dành cho cho khách vãng lai. Sự tháo vát của Wu khiến chúng tôi không có vẻ ngỡ ngàng của những khách lạ. Wu không gặp khó khăn gì để thuê 2 phòng trong khách sạn, phòng trên lầu 4, qua cửa sổ phía sau có thể nhìn xuống một khúc sông Mekong. Không biết sẽ được lưu lại nơi đây bao lâu, tuy còn rêm mình sau một chặng đường dài nhưng tôi vẫn bảo Wu lái xe đưa chúng tôi đi một vòng. Trong ráng chiều, ánh sáng không phải là lý tưởng cho những bức hình đẹp nhưng với tôi thì đây là cơ hội hiếm hoi và duy nhất để thu hình con đập - một nơi mà trước khi đi, tôi không nghĩ là có thể đặt chân tới. Xe chạy dọc theo bờ sông bên hữu ngạn, khoảng 4-5 giờ chiều có lẽ vào giờ nghỉ nên khá vắng, cơ hội là khoảng trống ấy, nên tôi đã chụp hình rất nhanh và tối đa với cả 2 cuộn phim các landmarks của khu đập Manwan.
Bên một bờ sông cao, phía dưới là dòng sông nước chảy, tôi cố gắng tới gần nhất chân con đập. Người bạn đồng hành luôn luôn là "cái thắng an toàn" không muốn tôi dừng lâu hơn nữa ở một nơi chắc chắn "không phải là tụ điểm du lịch" để mà xông xáo chụp nhiều hình như vậy. Tôi hiểu rất rõ một điều là cho dù với Trung Quốc đã mở cửa nhưng bản chất vẫn là "một nhà nước toàn trị". Vẫn có những hạn chế về thông tin và truyền thông trong đó vấn đề thu thập các hình ảnh, nhưng mức độ nghiêm ngặt tới đâu thì cũng rất biến thiên tùy theo thời gian, địa điểm và nhân sự, phải kể cả sự may mắn của mỗi nhà báo. Chính thức không được chụp hình là các căn cứ quân sự rồi tới các hải cảng, phi trường, nhà ga và cả những cây cầu trọng điểm. Với con đập thủy điện như Manwan thắp sáng cả Vân Nam, được quân đội bảo vệ, hiển nhiên phải được coi như một căn cứ quân sự chiến lược.
Biết là như vậy nhưng chính những con đập thủy điện, những cây cầu trên khúc sông Mekong nơi thượng nguồn với tôi lại là mục tiêu chính của chuyến đi Vân Nam lần này. Nên ngoài hành lý rất gọn nhẹ, hành trang chính là hai chiếc máy hình với rất nhiều phim vận tốc cao. Cũng phải kể thêm cả sự lạc quan nhưng đồng thời cũng chuẩn bị cho những tình huống tệ hại nhất: có thể sẽ ra về với tay không và cả những hệ lụy có thể xảy ra với những gán ghép thì sẽ rất hàm hồ.Với 2 cuộn phim, tôi nghĩ là đã tạm đủ cho những giờ đầu tiên đến với con đập Manwan ấy.
Trở lại khách sạn, được chỉ đường tới Câu Lạc Bộ Công Nhân, nơi chúng tôi có thể dùng bữa ăn chiều. Khu nhà ăn tập thể sạch sẽ khang trang. Vào giờ ăn, công nhân hay kỹ sư, tất cả đều rất trẻ và ngồi chung bàn; sự khác nhau về nghề nghiệp có thể nhận ra được trên nét mặt của họ. Thêm một người bước vào phòng ăn, tay cầm một chiếc tô bằng sắt tráng men trắng, khuôn mặt trẻ ánh mắt thông minh với cặp kính cận. Như một flashback, chiếc tô bằng sắt tráng men đi lãnh cơm bỗng chốc gợi lại cho tôi cảm xúc của những ngày tù cải tạo ở quê nhà, cũng ba năm chứ ít sao. Tôi bảo Wu nên ra ngoài kiếm một quán ăn nhỏ nào đó dưới phố. Đó là một quán không bảng hiệu, chỉ vỏn vẹn có mấy chiếc bàn và ghế gỗ nhưng phía sau nhà là nhìn sâu xuống một bãi cát và nước con sông Mekong. Con sông vẫn rì rào chảy, nhưng không còn cuộn sóng và như kiệt sức sau khi bị giam hãm trong hồ chứa và rồi chảy qua những turbines khổng lồ 675 tấn của con đập Manwan.
Phía bên kia bờ sông là núi cao với rừng xanh còn phủ kín. Mặt trời bắt đầu khuất sau đỉnh núi. Hôm nay, cũng là lần đầu tiên chúng tôi được ăn những món thổ sản của cao nguyên Vân Nam: món nấm sào, măng tre nướng, bọng ong chiên và dĩ nhiên không thiếu món cá tươi mới câu từ dưới con sông Mekong. Bề ngoài thì như bình thản, nhưng tôi không cảm thấy an tâm để lưu lại lâu hơn trong khu vực Manwan và có quyết định rời Manwan sáng sớm hôm sau. Wu thì lại quá nhiệt tình nghĩ rằng có thể tổ chức cho chúng tôi vào thăm bên trong nhà máy vì nghe nói vẫn có những tour có hướng dẫn như vậy. Sau bữa sáng nơi một quán ăn ngay trước cửa cơ quan, mà chủ nhân là người Hồi giáo (biết được như vậy do hàng chữ Ả Rập trên tấm bảng hiệu). Tôi và Wu trở vào khu hành chánh Manwan, tới được nơi cần tới. Cô trưởng phòng khi biết khách thăm là người ngoại quốc thì cô yêu cầu đợi để hỏi ý kiến cấp trên. Mươi phút sau thì một bà mặc áo ngắn, dáng khắc khổ, mà tôi nghĩ là phòng tổ chức bước vào nói chuyện khá lâu với Wu. Bà cho biết những chuyến tham quan như vậy là cho khách nội địa. Vì đây là lần đầu tiên có khách ngoại quốc, bà ta yêu cầu chờ để lên xin ý kiến của Đảng ủy. Wu đã đẩy tôi vào một tình huống thật khó xử và quả thật là thiếu khôn ngoan để dấn thân vào một "guồng máy" bất trắc như vậy. Bà phòng tổ chức vừa bước ra, tôi lấy cớ bảo Wu là sẽ không đủ thì giờ cho thêm một chuyến viếng thăm, nhưng rồi cả hai chúng tôi được giữ lại và yêu cầu chờ. Thật là tiến thoái lưỡng nan, tôi vẫn cố giữ vẻ thản nhiên nhưng cảm giác thì cứ như "gái ngồi phải cọc" và đồng thời phải chuẩn bị cho tình huống phải trả lời vô số những câu hỏi. Thời gian như chậm lại, nhưng rồi bà phòng tổ chức cũng trở lại, lần này thì rất lịch sự bà nói chuyện trực tiếp với tôi qua thông dịch của Wu. Rằng Đảng ủy Manwan không trả lời là không, nhưng nếu có lý do thăm viếng chính đáng tôi phải xin phép Đảng ủy Phân bộ Điện lực từ Côn Minh. Bị khước từ nhưng lại cảm thấy nhẹ nhõm, vì với red tape ấy, với hệ thống quan liêu giấy tờ ấy, tôi có thể rời Manwan mà không gặp phiền hà và cũng không hề có ảo tưởng là sẽ trở lại thăm Manwan bằng một giấy phép chính thức của Đảng ủy Côn Minh.
CÙNG BẦY CHIM CORMORANTS TRÊN HỒ NHĨ HẢI
Từ Manwan bằng đường bộ lên tới cổ thành Đại Lý cũng đã sẩm chiều. Đại Lý vẫn được so sánh như một tiểu Katmandu của Nepal, nơi có nhiều thắng cảnh và di tích lịch sử của hơn 1 triệu sắc dân Bạch / Bai với gốc rễ văn hóa lâu đời từ hơn 3 ngàn năm. Từ thế kỷ thứ 7, đã có một nước Nam Chiếu / Nanzhao rất hùng mạnh từng đánh bại quân Nhà Đường vào thế kỷ thứ 8. Sang thế kỷ thứ 10 trở thành vương quốc Đại Lý/ Dali cho tới thế kỷ 14, thời Nguyên Mông / Mongol Yuan thì không chỉ Đại Lý mà toàn vùng Vân Nam mới trực thuộc vào nước Trung Hoa.
Vẫn còn đó những kiến trúc cổ xưa như Chùa Ba Ngôi được xây cất từ thế kỷ thứ 9, những ngôi nhà đá cổ với cả những con đường đá quanh co. Nhưng thực sự đã không còn nguyên vẹn một cổ thành Đại Lý, bức tường thành kiên cố bằng đá không còn nữa, các cổng thành gốc đã bị phá đi thì nay được mô phỏng xây dựng lại nhưng với bên trong lại có những gian hàng bán nữ trang và đồ lưu niệm cho du khách. Đi bộ từ Cửa Bắc tới Cửa Nam của Cổ Thành, qua những đường phố nhỏ với đường lát gạch, hai bên đường là những quán ăn, tiệm Café Internet và luôn luôn tấp nập với các đoàn du khách được hướng dẫn bởi những cô gái gốc Hán má phấn môi son không khác với những cô tiếp viên hàng không nhưng lại với y phục rực rỡ của sắc dân Bạch.
Phía tây Đại Lý là trùng điệp núi non, phía đông là hồ Nhĩ Hải / Erhai Lake. Nhĩ Hải là hồ nước ngọt lớn thứ hai của Vân Nam đổ vào con sông Mekong qua một phụ lưu là con sông Xi'er. Được coi như một "tiên cảnh" của sắc tộc Bạch, là một hồ rất sâu có tới hơn 40 loại cá khác nhau nổi tiếng nhất là loại "cá quậy / bow fish" giống như cá chép có đặc tính ngậm đuôi vào miệng rồi bung ra nhảy cao trên mặt nước. Vân Nam rất xa biển nên người dân Vân Nam thích đặt tên biển cho những hồ lớn của họ. Đại Lý mưa tầm tã từ nửa đêm kéo dài tới sáng hôm sau. Nhưng rồi mặt trời cũng ló dạng. Khí hậu đủ tốt cho một nửa ngày đánh cá bằng chim cốc / cormorants trên hồ Nhĩ Hải.
Chiếc xe phải len lách giữa những thửa ruộng trên một con đường đất đá để tới được làng đánh cá nhỏ bên bờ tây của hồ Nhĩ Hải, gặp bác ngư dân sắc tộc Bạch da sạm nắng tuổi cũng gần 60, bác sống với đàn chim cốc cũng phải tới hai chục con đã được thuần hóa. Có khách tới, bầy chim được tự do ra khỏi những chiếc lồng, tung tăng duỗi chân duỗi cánh hân hoan. Thay vì đeo vào cổ chim những chiếc vòng, rất nhanh và thành thạo người đàn ông dùng mớ lạt, buộc cổ từng con chỉ vừa đủ chặt để ngăn chúng nuốt xuống những con cá lớn bắt được, rồi ra lệnh cho đàn chim tung mình xuống nước và bơi theo ghe ra hồ. Gần bờ, nước hồ ô nhiễm đặc sánh lại với rong rêu, cũng không ngạc nhiên khi thấy rãnh nước thải từ thành phố chảy qua các ruộng lúa rồi đổ thẳng xuống hồ. Phải xa bờ, nước hồ mới trở lại trong xanh. Như những người bạn thiết, bầy chim cốc và ngư ông hoạt động nhịp nhàng. Cảnh tượng thật kỳ lạ chỉ bằng khẩu lệnh với những âm thanh sắc ngắn là cả một bầy chim từng đợt từng đợt vỗ cánh rồi cùng ngụp lặn sâu dưới mặt nước. Phải một lúc sau mới thấy từng con trồi lên, con chim nào với chiếc cổ phồng to phía trên nút lạt thắt là dấu hiệu bắt được cá lớn, ngư ông chỉ cần tới gỡ mỏ từng con và thu hoạch. Mẻ cá đầu tiên của một chú chim cốc là hai con cá chép chỉ nhỏ hơn nửa bàn tay. Bầy chim tỏ ra rất thân thiện, nhảy lên ghe, đậu trên mái chèo hay trên tay khách. Cảnh trí thiên nhiên hữu tình, chủ khách và bầy chim thực sự giao hòa. Tỏ tình thân, người đàn ông gốc Bạch mời tôi điếu thuốc hút. Cũng đã 30 năm rồi, lần đầu tiên tôi đã lại vui vẻ đón nhận và cả thưởng thức điếu thuốc thơm Vân Nam trên mặt hồ Nhĩ Hải.
Cách đây ngót 8 thế kỷ (1278), Marco Polo trên Con Đường Tơ Lụa Phương Nam / Southern Silk Route đặt chân tới đây và ghi nhận cá ở hồ Nhĩ Hải là "nhất thế giới" sau đó Marco Polo đã vượt qua sông Mekong phía tây Vân Nam để ra khỏi Trung Hoa.
Sáu thế kỷ sau Marco Polo (1868), đoàn thám hiểm Pháp với Doudart de Lagrée / Francis Garnier khởi hành từ Sài Gòn bằng cuộc hành trình gian truân ngược dòng sông Mekong kéo dài hai năm cuối cùng Francis Garnier cũng tới được hồ Nhĩ Hải phía đông khu cổ thành Đại Lý. Nhưng Francis Garnier đã bị vị Sultan, vua Hồi từ chối tiếp kiến và buộc đoàn phải rời Đại Lý ngay sau đó.
Hơn 130 năm sau Francis Garnier, chúng tôi đang trở lại với sinh cảnh đẹp đẽ nhưng quá mong manh và có lẽ là những năm tháng cuối cùng của hồ Nhĩ Hải với nước hồ ngày càng ô nhiễm, đổ thoát ra bằng một phụ lưu lớn là con sông Xi'er để rồi cuối cùng cũng đổ dồn vào dòng chính con sông Mekong. Tương truyền rằng hàng năm cứ vào khoảng tháng Tư, đoàn cá Pla Beuk về tụ hội tại nơi vũng sâu Luang Prabang phía bắc Vạn Tượng để tuyển chọn xem con nào sẽ tiếp tục vượt thêm hơn 2,000 km bơi ngược dòng lên hồ Nhĩ Hải để đẻ trứng, con nào sẽ hy sinh làm mồi cho cho ngư dân làng Chiang Khong trong ngày hội thi cá Pla Beuk.
Pla Beuk / Pangasianodon gigas là loại cá bông lau khổng lồ chỉ có trên sông Mekong có con dài tới 3 mét nặng tới hơn 300 kg. Ngư dân Thái và Lào sống hai bên bờ con sông Mekong vẫn tin rằng cá Pla Beuk là loại linh ngư đem tới cho họ vận may trong mỗi mùa chài lưới. Từ 10 năm nay, khi hoàn tất con đập thủy điện Manwan (1993) trên dòng chính sông Mekong như một nút chặn, đã chẳng còn một con cá Pla Beuk nào lên tới được hồ Nhĩ Hải để đẻ trứng. Sau hai điếu thuốc, chủ và khách đều hân hoan. Lão ngư ông cao hứng bảo sẽ hát cho chúng tôi nghe một bài tình ca có tự lâu đời của sắc dân Bạch. Tuy không hiểu được lời ca nhưng những nốt nhạc thì rất du dương trầm bổng. Theo Wu thì bài hát kể lại mối tình thơ mộng và say đắm của đôi trai gái sắc tộc Bạch, cùng chèo thuyền trên hồ Nhĩ Hải cảnh sắc hữu tình, dưới bầu trời xanh, bên dãy núi cao, trên biển nước mênh mông, mỗi nốt nhạc lời ca là tiếng lòng thổn thức của họ. Ở tuổi gần 60, da sạm nắng và gầy khắc khổ nhưng người đàn ông đã hát với tất cả vẻ đam mê như đang sống lại với mối tình đầu của tuổi thanh xuân ngày nào. Bầy chim cốc vẫn bơi sát theo thuyền, mấy con nhảy đỗ trên ghe thì nghển cổ như để lắng nghe chủ hát.
Tôi hỏi về mức thu hoạch cá với đàn chim cốc. Ông nói đã sống với nghề săn cá bằng chim cốc từ 40 năm và chỉ cách đây hơn 10 năm thôi, vẫn có được những mẻ cá lớn nhưng về sau này thì không, lượng cá không hiểu tại sao ít hẳn đi, nhưng đàn chim cốc thì vẫn nuôi sống gia đình ông chủ yếu bằng tiền của du khách. Trước khi rời Đại Lý, chúng tôi cũng tìm đến thăm Mekong River Culture & Art Centre trên đường Wen Xian. Thực ra đó chỉ là một thứ motel với vườn cây và hồ cá. Bảo đó là trung tâm văn hóa của con sông Mekong thì thực là quá đáng bởi vì ngoài mấy chục phòng cho thuê, chỉ có thêm ở đó vài ba lớp hội họa, lớp thảo bút tự / calligraphy, lớp nhạc và lớp thể dục Tai Chi. Tác phẩm trưng bày là mấy bức tranh sơn dầu màu còn thô sượng, vài bức tượng nặn dở dang, khó có thể gọi đó là nghệ thuật. Những trang văn và thơ thì chưa xuất bản để được đọc, cảnh trí của trung tâm này chẳng có liên hệ gì tới con sông Mekong - ngoài một cái tên, để phải đi hơn nửa vòng trái đất tìm tới.
LƯỚI CÁ TRÊN SÔNG MEKONG
Hai ngày nữa cũng không có chỗ cho chuyến bay từ Đại Lý xuống Cảnh Hồng, chúng tôi quyết định trở lại Côn Minh bằng đường bộ, từ đây mỗi ngày có nhiều chuyến bay đi Cảnh Hồng, là thủ phủ của vùng tự trị Tây Song Bản Nạp / Xishuangbanna gồm nhiều sắc tộc đa số là Thái / Dai. Vốn được coi như một "tiểu quốc Thái Lan" trong một đất nước Trung Hoa. Ngoài khả năng thông dịch Wu cũng không biết gì nhiều hơn chúng tôi về vùng tự trị phía nam. Không có Wu đi cùng, chúng tôi lại đứng trước một tình huống mới. Tới Cảnh Hồng, từ phi trường Banna về Xishuangbanna Sightseeing Hotel, cho dù là khách sạn 3 sao cũng chỉ gặp toàn người nói tiếng Hoa. Phải chờ cho tới buổi chiều khi gặp được cô manager, có lẽ người Hồng Kông biết chút tiếng Anh, chúng tôi mới có thể liên lạc với một hãng du lịch. Bên kia đầu dây là Oliver, nói tiếng Anh như một người Hoa sinh đẻ ở Mỹ. Chỉ nửa giờ sau, hắn đích thân tới làm việc với chúng tôi ngay tại phòng khách sạn và cùng hoạch định chương trình cho ba ngày tới: bằng thuyền máy chúng tôi sẽ ngược dòng sông Mekong lên tới địa điểm xây đập Cảnh Hồng, lên thăm một khu cư dân sắc tộc, ngày hôm sau bằng xe tới với các con đập thủy điện phụ lưu dọc theo con sông Cát Vàng, thăm giang cảng Tư Mao và có thêm cả một buổi mai lưới cá trên sông Mekong. Chủ yếu là tới với sinh cảnh của con sông Mekong và những con đập. Một chương trình không giống với bất cứ một Tour Route nào mà Oliver vẫn phục vụ du khách. Dĩ nhiên có một cái giá phải trả cho một chọn lựa như vậy. Và người hướng dẫn là một thanh niên 22 tuổi sắc tộc Di / Yi với một funny name: Potato.
Người Di không có tên họ nên hắn được bố mẹ chọn cho tên Củ Khoai mà hắn cũng rất thích. Là người thiểu số nhưng rất thông minh, lại chịu khó, hắn đang đi làm để dành tiền để có thể lên học đại học ở Côn Minh. Tối nào Potato cũng vào thư viện đọc sách báo, sau nửa đêm thì học thêm tiếng Anh qua các đài VOA hay BBC. Mỗi ngày với hắn là một ngày mới, học thêm một điều mới: ngày thứ hai đang trên sông nước, Potato quay sang hỏi tôi có biết một tên khác của con sông Mekong, rồi hắn thích thú tự trả lời: Danube of the East. Hắn mới học được chữ đó trong thư viện buổi tối hôm trước. Sau Côn Minh, lại thêm một ngạc nhiên nữa khi tới với thị trấn Cảnh Hồng. Chỉ mới 5 năm gần đây thôi từ 1998, một Cảnh Hồng cũ đã bị san bằng để thay thế bằng một thành phố
hoàn toàn mới, với khách sạn nhiều tầng, các cửa hàng bách hóa, có cả thư viện và nhà sách lớn, với những con đường trải nhựa rộng với hai hàng cây xanh và dĩ nhiên là đông đảo người gốc Hán từ các nơi đổ tới. Một năm sau đó 1999, cây cầu mới lộng lẫy Cảnh Hồng từ xa nhìn như một con công dang cánh múa do Công ty Xây dựng Cầu đường Thượng Hải hoàn tất như một điểm nối quan trọng của mạng lưới giao thông thuộc Lưu Vực Lớn Sông Mekong (Greater Mekong Subregion). Cây cầu cũ của Liên Xô xây từ 1977 như một sản phẩm kỹ thuật hạng hai, nay bất khiển dụng chỉ dành cho xe đạp và người đi bộ. Buổi sáng sớm, khi mặt trời chưa lên, chiếc ghe máy đã chờ chúng tôi nơi khúc sông Mekong gần cây cầu Cảnh Hồng. Chỉ mới ba tuần lễ trước đây thôi, những cơn mưa lớn Vân Nam đã gây lụt lội và làm chết 12 người. Đây cũng là thời gian người bạn ở Nong Khai, một thị trấn đông bắc Thái ngay phía bên kia sông là Vạn Tượng, đã Email cho biết: "là đang chạy lụt, mực nước sông Mekong lên cao vì cả tuần nay nước đổ ào ào xuống từ Vân Nam. Nước đã lên đến mé đường chạy dọc theo bờ sông. Xe cảnh sát chạy khắp phố báo động, nhiều cửa tiệm đã chất đầy bao cát ở cửa ra vào, hoặc chở các hàng hóa đi Udon Thani tránh lụt."
Nay mực nước đã lại xuống thấp, những khối đá lớn nhỏ ven sông đã lại trồi lên. Sông sâu nhưng cũng phải thông thuộc nếu không có thể vỡ ghe vì va vào những tảng đá ngầm. Chiếc ghe máy chạy ngược dòng sông về hướng bắc, nơi sẽ xây con đập thủy điện Cảnh Hồng. Nước sông đỏ màu phù sa, vẫn chảy xiết với cả những vùng nước xoáy. Hai bên bờ sông là núi non. Trong tầm mắt nhìn thấy được, không còn đâu là những khu rừng mưa / rainforest nay được thay thế bằng những rừng cao su xanh ngút ngàn. Để thay thế cho những khu rừng mưa bị tàn phá, người ta trồng thay vào đó bằng những loại cây kỹ nghệ tương đối mọc nhanh như cây cao su, cây khuynh diệp (Eucalyptus)...tuy được mệnh danh là rừng-tái-sinh (reforestation) nhưng đó thực sự không phải là rừng mà chỉ là vùng đất nguyên là rừng nay trở thành vùng trồng thuần một loại cây kỹ nghệ / industrial monoculture tree plantation. Kế hoạch trồng cây kỹ nghệ này bắt đầu từ Thái Lan, rồiVân Nam Trung Quốc sau đó lan nhanh sang Lào, Cam Bốt và Việt Nam. Thực ra ai cũng hiểu rằng những khu rừng cây kỹ nghệ ấy không thể nào thay thế cho những khu rừng nguyên sinh, nếu không muốn nói tới những ảnh hưởng của một hệ sinh thái bất thường tác hại trên nước, trên đất, biến sinh cảnh trở nên cằn cỗi đối với cư dân sinh sống trong vùng...
Nhìn những búi cỏ rác khô và cả những túi rác ni lông đủ màu còn vướng trên những cành cây cao mới thấy được đỉnh lũ phải cao hơn mực nước hiện nay từ 3 tới 4 mét. Những túi ni lông chưa bị phân hủy, cũng để thấy rằng con sông Mekong đang là cống rãnh của các chất phế thải kỹ nghệ và cả rác rưởi của tiện dụng gia cư. Con sông vẫn chảy xiết giữa hai bên là núi cao lại thưa thớt dân cư; những hẻm núi cao dốc ấy là địa hình lý tưởng để mà xây thêm những đập thủy điện. Dự án đập Cảnh Hồng / Jinhong đã có cùng thời với con đập Mạn Loan / Manwan, dự trù sẽ được khởi công vào năm 2005. Dù vào thời điểm nào, thì sớm muộn chuỗi đập Bậc Thềm Vân Nam trên dòng chính sông Mekong cũng sẽ được Trung Quốc từng bước hoàn tất do những lợi lộc vô hạn đem lại và sẽ không có thế lực nào có thể cản trở được họ. Điều ấy là chắc chắn. Không phải bây giờ mà ngay giữa mùa nước cao ấy, Mika cô gái Nhật Bản đã trải qua 4 ngày 4 đêm trên một chiếc tàu hàng lớn với 5 người đàn ông lạ khác để đi ngược dòng sông Mekong từ Bắc Thái lên tới Cảnh Hồng. Nhỏ nhắn và xinh xắn như một cô nữ sinh trung học nhưng cô ấy lại là một giáo sư tiến sĩ của một đại học bên Anh thuộc Trung Tâm Nghiên Cứu Đông Nam Á / Centre For South-East Asian Studies và dĩ nhiên phải gan cùng mình để chọn một cuộc hành trình nhiều hiểm nguy và gian truân như thế. Vì là tàu hàng cấm chở khách nhưng qua giới thiệu của một người quen, cô được phép lên tàu như một thân quyến của giang đoàn. Qua các trạm kiểm soát, cả năm người đàn ông ấy ai cũng sẵn sàng nhận cô làm vợ. Họ phải vất vả đi theo tàu xa gia đình hàng tháng trời, Mika đến với họ như một cơn gió mát nhưng cô lại cảm thấy an toàn vì người đàn ông nào cũng thấy có nghĩa cả bảo vệ cho cô. Chúng tôi lần đầu tiên gặp Mika trong một phiên chợ đầy màu sắc với những bộ y phục cổ truyền của sắc dân Akai thuộc nhóm tộc thiểu số Hani. Phiên chợ đối với họ không phải chỉ để trao đổi hàng hóa mà còn là nơi phát triển các mối tương giao xã hội. Sắc dân Akai không chỉ sinh sống ở vùng tự trị Tây Song Bản Nạp / Xishuangbanna mà còn cả ở Bắc Thái và Lào. Đề tài khảo sát của Mika là Transnational Migration of Ethnic Minority Akai, đối với sắc dân này thì đường ranh giữa các quốc gia chỉ là một thứ biên giới ảo / virtual border. Cùng chia xẻ mối quan tâm về các sắc dân thiểu số, chúng tôi có nhiều điều để trao đổi và cũng nghĩ rằng vấn đề người Thượng ở Tây nguyên Việt Nam có thể là một đề tài nghiên cứu của Mika trong tương lai.
Hôm nay Mika đã cùng xuống thuyền với chúng tôi trong chuyến du khảo trên sông Mekong. Nước sông Mekong vẫn rào rào chảy xiết, cả rất xoáy và sủi bọt khi vòng qua những ghềnh đá. Bây giờ thì Mika mới bắt đầu biết sợ, cô không thể tưởng tượng được rằng mình đã trải qua hơn 4 ngày đêm lại ngược dòng trên con nước lớn cuộn sóng ấy.
Bây giờ mới tận mắt thấy xuôi dòng sông Mekong là những con tàu lớn chở hàng từ cảng Tư Mao / Simao xuống tới tận Bắc Thái và Lào, xuống xa tới Vạn Tượng. Vào tháng 4 năm 2001, Trung Quốc đã ký một thỏa ước về thủy vận trên sông Mekong nhưng chỉ với 3 quốc gia Miến Điện, Thái Lan và Lào với kế hoạch vét lòng sông, cả dùng cốt mìn chất nổ phá tung những khối đá trên các đoạn ghềnh thác, các đảo nhỏ trên sông để khai thông mở rộng đường sông cho tàu lớn trọng tải từ 500-700 tấn có thể di chuyển từ cảng Tư Mao Vân Nam xuống Chiang Khong Chiang Sean Thái Lan xuống thẳng tới Vạn Tượng thủ đô nước Lào. Trong khi Việt Nam và Cam Bốt là hai quốc gia cuối nguồn, trực tiếp chịu ảnh hưởng của kế hoạch ấy thì bị gạt ra ngoài. Hậu quả ra sao thì chưa ai lượng giá được nhưng chắc chắn nhịp độ thiên nhiên điều hòa của dòng chảy sẽ bị rối loạn có ảnh hưởng dây chuyền trên toàn hệ sinh thái sông Mekong. Mặt trời bắt đầu hồng lên trên đỉnh núi cao nhưng vẫn còn mờ sương. Ngược dòng chảy mạnh, chiếc ghe chạy chậm hẳn lại. Nhưng rồi cũng lần lượt ghé vào từng ghềnh đá nơi có đặt lưới từ đêm qua.
Cả thảy 12 chiếc lưới được đặt hai bên bờ ở những khúc sông khác nhau gần nơi sẽ xây con đập Cảnh Hồng. Mỗi chiếc lưới nay được chính tay chúng tôi kéo lên. Mỗi mẻ lưới đều có cá nhưng là những con cá nhỏ, nhỏ hơn cả những con cá lưới được trên khúc sông Vạn Tượng ở Lào hay nơi khúc sông Tonlé Sap ở Nam Vang. Cũng có mẻ lưới thật nặng không phải cá lớn mà do lưới mắc vào ghềnh đá. Tóm lại đây là một vụ thu hoạch nghèo nàn. Không nói tới những con cá hiếm quý như Pla Beuk, Dolphin nhưng ngay cả những con cá lớn quen thuộc của sông Mekong nay ở đâu? Tôi thì vẫn lạc quan tin rằng còn quá sớm để bảo rằng đó đã là hình ảnh của quá khứ.
ĐƯỜNG LÊN TƯ MAO
Tư Mao / Simao cách thị trấn Cảnh Hồng 165 km về hướng đông bắc, được coi như cửa ngõ để đi về phương nam xuống vùng tự trị Tây Song Bản Nạp. Con đường đèo tuy hẹp nhưng khá tốt. Potato thuê được một cô tài xế gốc Hán tóc ngắn tuổi mới ngoài 20, tay lái quá vững lại quen thuộc đường đi nên cô ấy vẫn không giảm tốc độ ở cả những khúc đường vòng. Chiếc xe vẫn chạy giữa một màu xanh của núi đồi, qua các thung lũng với sông và lạch.
Giữa con đường độc đạo ấy nơi lưng đèo gặp phải một trạm kiểm soát với những người lính Hồng quân còn rất trẻ. Họ kỷ luật lễ phép nhưng vẻ mặt thì quá lạnh lùng và cảnh giác. Cũng hình ảnh người lính Hồng quân ấy từ 28 năm nay đang ghì súng trên quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam. Truyền hình của nhà nước Trung Quốc luôn luôn có một kênh đài chỉ để phô trương sức mạnh quân sự của Hoa Lục. Mọi người phải xuống xe để họ xét và giở xem từng trang cuốn sổ thông hành. Tuy mang thông hành Mỹ nhưng Potato lại giới thiệu chúng tôi là người Việt và Mika là người Nhật Bản. Họ yêu cầu được khám và lục soát xe từ trước ra sau; vì đây là con đường từ Thụy Lệ / Ruili một thị trấn biên thùy hoang dã giữa cực tây nam Trung Hoa và Miến Điện, được coi trục vận chuyển thuốc phiện từ khu Tam Giác Vàng vào Vân Nam. Những gì sẽ xảy ra nếu họ tìm ra được dù chỉ một chút ma túy trên chiếc xe của chúng tôi? Họ để chúng tôi đi sau khi không tìm thấy gì ngoài mấy thùng hàng khô nơi cốp xe sau của cô tài xế.
Cuối cùng chúng tôi cũng tới được thị trấn Tư Mao, địa danh rất nổi tiếng về các loại danh trà của Vân Nam, nằm trên hai con đường lịch sử: Con Đường Tơ Lụa Phương Nam / Southern Silk Road, như một hành lang doanh thương có từ thời Marco Polo sang tới tận La Mã và Con Đường Mã Trà / Tea-Horse Road nơi xưa kia xuất phát các đoàn xe ngựa thồ chở trà lên tận Tứ Xuyên và cả Tây Tạng. Nay thì người ta đang mở thêm một xa lộ có tên là Xa Lộ Vân Nam - Miến Điện dài 910 km từ Côn Minh tới Thụy Lệ, như một nhánh quan trọng trong mạng lưới giao thông Giang cảng Tư Mao trên bờ sông Mekong nhưng lại cách thị trấn ngót 80 cây số, trời sẩm tối đường lại xấu nên chúng tôi quyết định trở lại Cảnh Hồng sau khi thăm mấy đường phố chính và cả thưởng thức mấy chung trà Pu'er nổi tiếng của Tư Mao. Về tới Cảnh Hồng, chúng tôi đã phải ở lại thêm một ngày nữa và phải ngủ gần qua đêm ngoài phi trường vì một trận bão lớn đang thổi vào Côn Minh.
HỒ ĐIỀN TRÌ / DIAN CÔN MINH VÀ CON SÔNG HỒNG
Những chuỗi hồ lớn nhỏ chạy dài xuống tới Hà Khẩu / Hekou biên giới phía bắc của Việt Nam đã tạo nên một địa hình rất đặc biệt của cao nguyên Vân Nam. Điền Trì / Dian là một biển hồ lớn nhất phía nam Côn Minh, đã từng được Marco Polo khi tới thăm thủ phủ Côn Minh vào thế kỷ thứ 13 mô tả như "một hồ lớn cả trăm dặm và lưới được rất nhiều cá". Hồ có chiều dài hơn 40 km, diện tích 300 km2 (gần bằng nửa diện tích đảo quốc Singapore), phía tây là núi đồi, phía đông hồ, địa hình bằng phẳng, nguyên là khu chài lưới thịnh vượng nhưng do ô nhiễm từ các khu kỹ nghệ bờ đông nam nên đã không còn nhiều cá và thực sự không còn một nền ngư nghiệp. Không sao xử lý được nước thải, không giải quyết được khối nước đã quá ô nhiễm trong Hồ Lớn Điền Trì - Wu thuật cho chúng tôi nghe về một kế hoạch táo bạo của chính quyền Vân Nam: dự trù chi phí 2 tỉ yuan để khai thông một đường dẫn cho thoát nước ra sông Hồng chảy qua Việt Nam rồi đổ ra Biển Đông, sau đó thay thế bằng nước con sông Dương Tử dẫn vào hồ. Tuy chưa thể kiểm chứng được là có bao nhiêu phần trăm sự thật trong kế hoạch đầy sáng tạo nhưng độc ác của các "công trình sư Đại Hán" ấy. Làm sao mà kiểm chứng được khi các kế hoạch luôn luôn bị "bưng bít, dấu nhẹm" bởi nhà nước Trung Quốc, nhưng có thể chắc chắn một điều Wu người giáo viên trung học ấy không đủ giàu tưởng tượng để bịa đặt ra điều đó. Đổ tất cả ô nhiễm của hồ Điền Trì vào con sông Hồng như một đường cống rãnh, hậu quả sẽ ra sao trên bao nhiêu triệu cư dân Việt Nam nơi đồng bằng châu thổ đang sống bằng nguồn nước con sông Hồng và đây là điều sẽ được ai quan tâm tới? Nhà cầm quyền Hà Nội được biết gì về một kế hoạch "giải quyết môi sinh" theo lối ném bùn sang ao của chánh quyền Vân Nam? Với tất cả "sự dè đặt" nhưng không thể không ghi lại sự kiện trên và hiển nhiên những bước tiếp theo là trách nhiệm của chánh quyền Hà Nội phải làm sáng tỏ vấn đề qua những "điều tra và kiểm chứng", với sự góp sức của các nhà báo bên trong cũng như bên ngoài nước và của các nhà hoạt động môi sinh. Nếu như đó là sự thật - chỉ mong là không, thì hàng bao nhiêu triệu cư dân Việt đang sống trong vùng châu thổ sông Hồng sẽ nghĩ sao và phản ứng ra sao? Wu thực sự không ở tầm vóc để chúng tôi phải mở ra một cuộc tranh luận môi sinh và anh ta thì lúc nào cũng rất kiêu hãnh về những công trình đem lại thịnh vượng cho nước Trung Hoa.
MỘT CHÚT RIÊNG TƯ
CÒN TIẾP
songchampls | 03 March, 2010 14:48
LỜI DẪN NHẬP 
"Cửu Long Cạn Dòng Biển Đông Dậy Sóng", dữ kiện tiểu thuyết, xuất bản lần đầu tiên năm 2000, tái bản năm 2001 nay đã tuyệt bản. Trong khoảng thời gian ấy, tác giả đã thực hiện một số chuyến đi "quan sát thực địa" từ Vân Nam Trung Quốc xuống các quốc gia Lào Thái Cam Bốt và Đồng Bằng Sông Cửu Long Việt Nam.
"Mekong Dòng Sông Nghẽn Mạch" bao gồm những hình ảnh và các trang bút ký sống động của tác giả viết về các chuyến đi ấy. Trình tự các bài viết - thay vì theo thời gian các chuyến đi, sẽ được sắp xếp theo vị trí địa dư từ thượng nguồn xuống tới vùng hạ lưu. Duy chuyến viếng thăm quốc gia Tây Tạng đầu nguồn sông Mekong, nay chỉ còn là một vùng tự trị của Trung Quốc, cho dù được hoạch định rất sớm và từ lâu nhưng vẫn chưa thực hiện được do một số điều kiện khách quan và cả sự nhạy cảm về chánh trị khi mục đích chuyến đi không phải là "du lịch".
Cũng qua các thông tin có được ấy, để thấy rằng sự suy thoái của con sông Mekong là do những bước "khai thác tự hủy" như một phản ứng dây chuyền với tàn phá sinh cảnh, làm cạn kiệt nguồn tài nguyên, gây ô nhiễm môi trường... tất cả đã và đang diễn ra nhanh và sớm hơn dự kiến của nhiều người. Điển hình là vùng Đồng Bằng Sông Cửu Long, sông Cửu thì đang cạn dòng, thêm ngập mặn, ngày càng ô nhiễm và nguồn thủy sản thiên nhiên từ sông vốn rất phong phú cách đây ba thập niên thì nay hầu như không còn đáng kể...
Thế rồi chỉ hai ngày trước khi bước sang năm 2007, một sự kiện đã gây chấn động cho toàn thể các quốc gia Đông Nam Á và các nhà hoạt động bảo vệ môi sinh khi Tân Hoa Xã loan tin, ngày 29-12-2006, lần đầu tiên Bắc Kinh đã hoàn tất hai chuyến tàu tải 300 tấn dầu hỏa xuất phát từ cảng Chiang Rai bắc Thái lên tới một giang cảng tỉnh Vân Nam. Tiếp theo chuỗi những con đập thủy điện khổng lồ Vân Nam đã và đang gây tác hại trên đời sống của hơn 60 triệu cư dân hạ nguồn, thì sự cố này được coi như một đòn giáng chí tử thứ hai trên sinh mệnh của con sông Mekong, khi dòng sông được khai thác sử dụng như một thủy lộ chiến lược vận chuyển dầu khí từ Trung Đông tiếp tế cho các tỉnh vùng kỹ nghệ tây nam Trung Quốc thay vì phải đi qua eo biển Malacca.
Cho đến nay, rõ ràng là không có giải pháp nào để cứu lấy dòng sông khi mà mọi quốc gia trong lưu vực - nhất là Trung Quốc, chỉ muốn tự do khai thác con sông theo ý mình chỉ để phục vụ cho quyền lợi ngắn hạn cục bộ - cả theo cái ý nghĩa hủy hoại, mà bất kể tới hậu quả dây chuyền ảnh hưởng tác hại tới các quốc gia láng giềng và về lâu về dài, tới sinh mệnh của cả một dòng sông ra sao.
Kêu gọi thể hiện "Tinh Thần Sông Mekong" như một mẫu số chung cho mọi quốc gia trong lưu vực với mối quan tâm bảo vệ dòng sông trong toàn bộ các kế hoạch khai thác và phát triển - nhưng đó phải là những bước hợp tác phát triển bền vững.
NGÔ THẾ VINH
Đồng Bằng Sông Cửu Long 08/2006
California 01/2007
TƯỜNG TRÌNH TỪ VÂN NAM
ĐẾN VỚI CON ĐẬP MẠN LOAN
Everybody Lives Downstream
Mọi người đều sống dưới nguồn
(World Water Day 03-22-1999)
Vào Trung Quốc đã trở thành dễ dàng trong những năm gần đây, và càng dễ dàng hơn nếu du lịch theo nhóm có hướng dẫn với lộ trình định sẵn. Nhập cảnh Trung Quốc với lý do cá nhân lại là một vấn đề khác. Cho dù là đổi mới, dẫu sao Trung Quốc vẫn còn là xứ sở của toàn trị và công an, rất kỵ với nhà báo, nhà văn hay bất cứ nghề nghiệp nào liên quan tới truyền thông và kể cả các tu sĩ truyền giáo.
Cho dù chủ đích là một chuyến du khảo / fieldtrip về khúc thượng nguồn con sông Mekong và các con đập Vân Nam nhưng chọn lựa dễ dàng nhất vẫn là lý do du lịch và nghề nghiệp thì chắc chắn không phải là nhà báo. Tôi cũng hiểu rằng nếu phải ghi lộ trình chi tiết thì cũng nên tránh nhắc tới địa danh rất "nhậy cảm" như Tây Tạng.
Đặt chân vào Trung Quốc, trở ngại trước mắt là hàng rào ngôn ngữ. Từ 4 tháng trước, qua giới thiệu của anh Trần Huy Bích với anh Trương Khánh Tạo ở Oklahoma, tôi đã được anh Tạo sốt sắng giới thiệu với anh Hoàng Cương người bạn thân thiết hoạt động cách mạng còn kẹt lại Côn Minh từ năm 1946.
Hơn nửa thế kỷ sống ở Vân Nam, thông thạo tiếng Trung Hoa, anh Cương sẵn sàng giúp khi tôi qua vào tháng 9. Nhưng gần tới ngày đi thì được tin anh Cương vì lý do riêng phải về Việt Nam và sẽ không có mặt ở Vân Nam. Không dễ dàng để thay đổi lịch làm việc ở bệnh viện, tôi vẫn phải thực hiện chuyếnđi theo dự định, với thái độ sẽ "phản ứng theo hoàn cảnh". Cũng nghĩ rằng với các hàng rào ngôn ngữ ấy, tôi vẫn thực hiện các chuyến đi Lào và Cam Bốt như ý muốn.
Trước chuyến đi, thật là xúc cảm khi được tin anh Trương Khánh Tạo đã không còn nữa. Rất riêng tư, những dòng chữ viết về chuyến đi Vân Nam này xin được gửi tới anh Trương Khánh Tạo và gia đình Anh như một tỏ lòng tưởng nhớ.
Bằng chuyến bay của China Southern từ Los Angeles ghé Quảng Châu, vốn đã là một thành phố lớn và hiện đại trong số các tỉnh miền nam của Trung Quốc, từ đây phải đổi máy bay để tới Côn Minh, thủ phủ của Vân Nam.
Trung Quốc là một đất nước vĩ đại được hiểu theo nhiều ý nghĩa. Chỉ riêng tỉnh Vân Nam cũng đã lớn hơn Việt Nam, diện tích 394,000 km2 dân số chỉ có 35 triệu (so với Việt Nam 340,000 km2, dân số đông hơn gấp đôi). Từ cửa máy bay nhìn xuống, Côn Minh mang vóc dáng của một thành phố lớn Âu Mỹ.
Chẳng còn đâu cái hình ảnh Côn Minh như "một thị trấn Đông Phương hẻo lánh im ngủ"như ghi nhận của viên tướng không quân huyền thoại Claire Chennault của phi đoàn Flying Tigers từng trú đóng ở đây hồi Thế chiến thứ Hai.
Phải từng được sống ở một Côn Minh cũ, trở lại thăm mới thấy được sự đổi thay toàn diện và triệt để như thế nào: "Côn Minh nơi chúng tôi đã ở đó 50 năm về trước, ngày nay đã hoàn toàn đổi khác, nhà cửa, phố xá hẹp cũ đã không còn nữa thay thế bằng những tòa lâu đài đồ sộ và đường xá rộng thênh thang, có đường riêng cho người đi bộ, đường riêng cho người đi xe đạp và nhiều cây cầu lớn bắc ngang qua đường, dưới cầu có đường hầm cho khách bộ hành qua đường và biến thành khu chợ to lớn dưới hầm. Có thể nói thành phố Côn Minh 50 năm về trước đã bị san bằng để xây dựng một thành phố tân kỳ kiểu Âu Mỹ khiến ngày đầu tiên đến Côn Minh, khi chưa tìm được bạn cũ, tôi không tìm ra được những nơi trước đây tôi có nhiều liên hệ. Khí hậu Côn Minh ôn hòa, suốt năm không nóng không lạnh quá. Tôi nhớ lại hồi xưa anh Tam (Nhất Linh) đã nói với tôi rằng: nếu được về hưu, anh sẽ chọn Côn Minh thay vì Đà Lạt."
Đó là cảm tưởng của anh Trương Khánh Tạo khi trở lại thăm Côn Minh. Sự thực thì sự đổi thay mau chóng ấy mới chỉ trong vòng một thập niên gần đây thôi, từ ngày có nguồn thủy điện dồi dào của con đập Manwan. Người tài xế đã nói với tôi như vậy.
Wu là người Vân Nam đầu tiên tôi tiếp xúc, 28 tuổi một thanh niên khỏe mạnh, là tài xế đón khách ở phi trường, nói tiếng Anh lưu loát và có vẻ hiểu biết, đưa tôi từ phi trường về Holiday Inn Côn Minh, một khách sạn mới 4 sao 242 buồng theo tiêu chuẩn Mỹ. Nơi mà tôi hy vọng không phải gặp ngay trở ngại ngôn ngữ và cũng từ đây có thể tìm ra một người tài xế của một Travel Agency biết chút ít tiếng Anh.
Ở cao độ 2,000 mét trên mặt biển, từ một Côn Minh cũ kỹ, bụi bặm và cả rác rưởi thì nay là một Côn Minh rất khác như anh đã thấy. Wu nói với chúng tôi. Trên đường về khách sạn, vào bên trong thành phố, nếu không còn nhiều xe đạp, thì đó là hình ảnh một thành phố hiện đại như ở Mỹ. Đường rộng và đẹp với những vồng hoa tươi đủ màu. Sự sạch sẽ trên các đường phố là điều đáng ngạc nhiên. Wu hãnh diện giải thích. Chính người dân Côn Minh tự thấy rằng đây là thành phố của họ, nên họ yêu mến muốn giữ gìn và làm đẹp cho nó. Đủ ăn đủ mặc cho 1.2 tỉ người có lẽ là một giai đoạn đã vượt qua. Đó là cảm tưởng tôi có được sau những ngày ở Vân Nam. Không thấy bóng dáng hành khất. Rải rác trên đường phố là hình ảnh các công nhân vệ sinh khỏe mạnh trong đồng phục bảo hộ lao động, họ vẫn dùng chổi quét và kẹp nhặt từng cọng rác. Những ngày sau này, cũng hình ảnh những công nhân quét đường ấy thấp thoáng trên những khúc xa lộ mới rất xa thành phố nhưng luôn luôn được giữ sạch tới láng nhãy.
Chỉ qua những trao đổi ngắn trên đường đi, tôi đã có quyết định rất nhanh là chọn Wu và chiếc xe Mitsubishi của anh ta cho những ngày ở Côn Minh. Ngay suốt nửa ngày còn lại hôm đó, Wu đưa chúng tôi đi thăm thủ phủ Côn Minh, thăm cả một vài góc phố hiếm hoi của một Côn Minh cũ với những căn nhà mái cong mang nhiều dấu vết rêu phong của thời gian. Không xóa hết, có lẽ đây là phần người ta còn muốn giữ lại như một tương phản giữa truyền thống và canh tân.
Tới thăm Đại Học Vân Nam, cảnh trí vẫn y như vậy, giống như mô tả trong hồi ký gia đình, "Nguyễn Tường Bách và Tôi" của Hứa Bảo Liên: " Đây là một trường đại học lớn nhất của tỉnh này, chiếm cả một ngọn đồi lớn. Trên đồi toàn là những cây thông cây bách cao lớn, những con sóc nhảy từ cây nọ sang
cây kia nhanh như cắt. Mỗi khi vào trường mọi người phải leo lên 99 bậc thang đá. Trong trường có nhiều kiến trúc đẹp và kiên cố toàn dùng những miếng gạch đỏ xây thành."
Vẫn có đó những bước nhảy chân sóc nhanh như cắt ấy, vậy mà đã hơn nửa thế kỷ bão táp đã qua đi của một thời kỳ cách mạng Việt Nam với những tháng ngày bôn ba của những tên tuổi như Nhất Linh, Hoàng Đạo, Nguyễn Tường Bách. Nhưng sự nguyên vẹn của đại học Vân Nam cũng chẳng còn tồn tại được bao lâu nữa vì trước mắt, những tòa nhà cổ xưa từ mấy trăm năm cũng đang từng phần bị phá đi để thay thế bằng những công trình kiến trúc hiện đại.
Thời gian của chuyến đi Vân Nam thì hạn hẹp, với mục đích rõ ràng là đến với khúc thượng nguồn con sông Lan Thương (Lancang Jiang tên Trung Hoa của con sông Mekong), tôi tiếp tục tìm hiểu xem chính Wu hay các mối liên hệ của anh ta có giúp tôi được gì không trong thực hiện mục đích chuyến đi này. Qua câu chuyện trao đổi, được biết thêm về Wu, người gốc Hán tốt nghiệp đại học 4 năm, là giáo viên dạy toán, một vợ một con nhưng lương ít. Với cơ hội của một Trung Quốc mở cửa, Wu bỏ nghề giáo chuyển sang nghề lái taxi, lại có vốn liếng tiếng Anh nên có thể đồng thời hướng dẫn khách du lịch. Lương nay đã tăng gấp 6 lần so với nghề nhà giáo, khoảng 600 đôla / tháng, có thể mua nhà trả góp thay vì thuê và sẽ hoàn toàn sở hữu căn nhà sau 20 năm. Wu tự tin, bày tỏ mạnh dạn về các vấn đề chánh trị và xã hội của Trung Quốc. Chẳng hạn: Đài Loan dứt khoát là một tỉnh của Trung Quốc, không còn gì để phải tranh cãi. Mao Trạch Đông thì vẫn được kính trọng. Đặng Tiểu Bình được nhân dân Trung Quốc biết ơn vì mở ra một thời kỳ phát triển và thịnh vượng cho nước Trung Hoa. Thế còn chủ tịch Giang Trạch Dân? Cũng vậy thôi, ông ta quá mềm yếu / too soft nhất là với Mỹ khiến nhân dân Trung Quốc giận dữ. Như vụ để cho máy bay Mỹ đáp xuống đảo Hải Nam thay vì phải bắn rơi. Dẫu sao, bù lại Trung Quốc biết được thêm nhiều về kỹ thuật hàng không do thám của Mỹ. Không quá ngây thơ để không nghĩ rằng những tài xế taxi hay hướng dẫn du lịch lại chẳng liên hệ gì tới công an, do đó tôi chỉ đưa ra những câu hỏi hồn nhiên chứ dứt khoát không để mở ra cuộc tranh luận.
Bữa ăn tối hôm đó Wu đưa chúng tôi tới một nhà hàng nổi tiếng về món "Bún Qua Cầu", đơn giản chỉ là một tô nước dùng nóng sôi ngậy một lớp mỡ, khi ăn thì thả bún và những lát thịt thái mỏng vào, thêm một muỗng ớt đỏ, giống như món lẩu nhưng không có một bếp lò trước mặt. Đó là một bữa ăn nóng theo đủ cả ý nghĩa của chữ ấy. Các cô tiếp viên gốc Hán nhưng lại mặc theo trang phục rực rỡ của sắc tộc Di. Khách tới thăm Vân Nam không thể không nghe cái giai thoại thơ mộng và được giới thiệu đến với món ăn này.
Vào đời nhà Thanh, có chàng hàn sĩ quyết tâm đèn sách để chờ ngày về kinh đô dự thi. Chàng rời gia đình, dọn ra một hòn đảo nhỏ trên hồ để tập trung vào việc học. Hàng ngày, người vợ trẻ từ nhà phải vượt một cây cầu tre dài qua tận bên đảo đem bữa ăn đến cho chồng nhưng tới nơi thì thức ăn đã nguội lạnh. Tình cờ một hôm người vợ khám phá ra rằng nếu như có đổ một lớp mỡ dầy trên tô canh từ nhà thì vẫn giữ được thức ăn nóng cho tới khi gặp chồng. Tuy được giới thiệu là "ngon tuyệt" nhưng chúng tôi không thể nào theo kịp Wu để có thể dứt điểm một "tô xe lửa ngậy mỡ động vật" như vậy. Nhiều dầu mỡ và cay nóng là đặc tính của các món ăn Vân Nam. Đêm hôm đó cũng là đêm đầu tiên ở Vân Nam, nhìn ra từ tầng lầu 9 của khách sạn Holiday Inn, trước mắt là cả một "Côn Minh rực sáng" dĩ nhiên với nguồn điện từ con đập Manwan, đập thủy điện đầu tiên trong chuỗi 14 con đập bậc thềm trên khúc thượng nguồn con sông Mekong. Côn Minh ngày nay như biểu tượng phát triển của Vân Nam, nhưng bằng cái giá nào phải trả cho cư dân nơi Đồng Bằng Sông Cửu Long và các quốc gia hạ nguồn thì vẫn còn là một ẩn số.
RỪNG ĐÁ VẠN CỔ
126 km theo quốc lộ 320 hướng đông nam, hai bên đường dòng sông nghẽn mạch 29 mướt một màu xanh với những vườn cây trái, với cả những con lạch nhỏ và suối. Đủ loại trái cây tươi mới hái từ trong vườn ra, còn dính theo cả lá cành được bầy ra ven lộ bán cho du khách: những trái lê, đào, hồng giòn, măng cụt. Đất Vân Nam nổi tiếng về cây trái: đào Vân Nam có tiếng là thơm ngọt, tôi chưa bao giờ thấy được những trái lê bát lớn và đẹp đến như vậy với lớp vỏ xanh mượt mà. Đây sẽ là món quà thật quý từ Vân Nam nhưng trái cây lại là thứ quốc cấm không được phép đem vào Mỹ. Wu bảo đất ở cao nguyên Vân Nam tốt cho cây trái nhưng lại không tốt cho lúa nên muốn có gạo ngon thì phải nhập từ Thái Lan.
Đường xe lửa cũ từ Côn Minh xuống tới Hà Nội Hải Phòng làm từ thời Pháp (1904-1910) nay được thay thế bằng hệ thống đường rày mới. Song song với quốc lộ lúc nào cũng hai chiều tấp nập những xe vận tải lớn Dong Feng / Gió Đông chế tạo tại Trung Quốc. Từ thủ phủ Côn Minh về hướng đông đi Thượng Hải, người ta đang làm thêm một công trình cầu đường với xa lộ 8 lanes để đáp ứng nhu cầu giao thông và nổ bùng kinh tế của Côn Minh. Cách khoảng hai bên đường, là những trạm xăng của Petro-China rộng thênh thang có từ 20 tới 30 cây xăng mỗi trạm. Liệu có bao nhiêu thùng dầu ấy có gốc gác từ những túi dầu Biển Đông quanh các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. China Telecom và China Mobile là hai công ty khổng lồ đang cạnh tranh cung ứng điện thoại di động được sử dụng tràn ngập bởi 1.2 tỉ người dân Trung Quốc. Khu Rừng Đá, cùng tuổi với rặng Hy Mã lạp Sơn, và cả vùng cao nguyên Tây Tạng (cao nguyên Tây Tạng là nơi phát xuất các con sông lớn như mạch sống cho toàn vùng châu Á trong đó có con sông Mekong). Có cùng một lịch sử địa chất, khoảng 300 triệu năm trước do va chạm của hai khối tiền lục địa tạo nên các cơn địa chấn với sức ép khổng lồ dồn lên phía bắc tạo nên một địa hình mới nổi bật với sự hình thành dãy Hy Mã Lạp Sơn và cả vùng cao nguyên Trung Á. Khu Rừng Đá rộng 80 mẫu tây như một kỳ quan của tỉnh Vân Nam. Nguyênlà một vùng đáy biển bị dồn lên cao, nước biển rút ra để trơ lại một vùng núi nham thạch bị nước, gió và thời gian xói mòn tạo nên một địa hình kỳ lạ với vô số những chỏm đá cao và những rãnh cắt ngang. Rừng thay vì cây xanh nhưng lại là những cây đá chi chít với đủ hình dạng gợi trí tưởng tượng phong phú của
người dân Vân Nam với những tên gọi thơ mộng: vũng gươm, voi con, nấm bất tử. Vân Nam xứ sở của những giai thoại. Tới với Rừng Đá không thể không được nghe kể câu chuyện về một chàng trai tuấn tú tên Ahei vào trong khu Rừng Đá để tìm cách giải thoát cô gái trẻ đẹp Ashima đang bị giam cầm. Nhưng tên phù thủy độc ác đã tạo nên một cơn lũ cuốn Ashima băng ra khỏi hang đá, và từ đó Ashima vĩnh viễn xa Ahei nhưng linh hồn nàng thì vẫn trở về với Thạch Lâm như một âm thanh vang vọng. Một mình đi vào khu rừng đá là như lạc vào một mê lộ không dễ mà tìm ra lối về.
Vào mùa này, du khách đa số là người Hoa. Cuộc sống bắt đầu sung túc họ có nhu cầu du lịch, đi thăm một đất nước mênh mông với bao nhiêu là danh lam thắng cảnh, mà chưa cần phải khó khăn xin visa đi du lịch nước ngoài. Mỗi toán chừng 20 người đi theo một cô hướng dẫn tay cầm một cây cờ màu để nhận diện. Toán chúng tôi chỉ có 3 và Wu thì đã quá quen thuộc với từng đường đi nước bước trong khu rừng đá như với đường chỉ tay của chính mình.
Tràn ngập quanh khu Rừng Đá là các cô sinh viên gốc Hán má phấn môi son, bận trang phục đầy màu sắc của sắc tộc Di, sẵn sàng làm người mẫu đứng chụp hình với du khách hay làm người hướng dẫn.
Thương mại hóa cao độ các tụ điểm du lịch là một hiện tượng thấy được ở khắp nơi từ khu đền đài Angkor Siem Reap tới Rừng Đá Shilin Vân Nam. Màn trình diễn high-tech "âm thanh và ánh sáng" thật hoành tráng bên hồ sen bên ngoài khu rừng đá mỗi đêm kết hợp với kỹ thuật tia laser diễn lại truyền thuyết nàng Ashima được kể là một show rất ăn khách nhưng chúng tôi không có nhiều thời gian ở lại qua đêm chỉ để xem một màn show như thế.
Trên đường trở lại Côn Minh cùng ngày, tôi bảo đùa Wu là hướng dẫn đoàn du khách mà quên không mang theo một cây "hồng kỳ" và cũng hỏi Wu có biết hát bài "Đông Phương Hồng". Không chờ được yêu cầu, Wu hát giọng rất mạnh và
nồng nàn, gợi nhớ tới các đoàn "Hồng Vệ Binh" của thập niên 60, nhưng lúc đó thì Wu chưa được sinh ra.
Qua hai ngày tiếp xúc và thử thách, Wu chứng tỏ rất có khả năng và có thể tin cậy được. Tôi trở lại hỏi Wu về nguồn điện của thủ phủ Côn Minh, về con đập Manwan. Wu cũng chỉ được biết Manwan như một địa danh cách Côn Minh khoảng 500 km về hướng nam, giữa con đường đi xuống Cảnh Hồng. Đường núi có vài đoạn hư xấu chưa được sửa chữa nhưng vẫn có thể đi được nếu thời tiết không mưa bão. Với chiếc Mitsubishi chỉ có 4 máy đã chạy hơn 100 ngàn miles, tôi hỏi Wu làm cách nào thuê được một chiếc xe giống như loại xe Jeep có thể leo núi thì hắn trả lời vẻ tự tin: chiếc xe tuy cũ nhưng lại tốt hơn cả các loại xe mới hiện nay và dư sức để chạy gấp 2 chặng đường tới Manwan chỉ cần đổ đủ
xăng nhớt. Chừng đó đủ cho tôi quyết định ngay sáng sớm ngày mai, chúng tôi sẽ khởi hành đi Manwan.
CON ĐẬP ĐẦU TIÊN, CON ĐẬP LỊCH SỬ
Manwan (tên Hán Việt: Mạn Loan) là con đập thủy điệnlớn đầu tiên của tỉnh Vân Nam với công suất 1,500 Megawatt nằm ngay khúc giữa con sông Lan Thương. Cũng là con đập thủy điện lớn đầu tiên điều hành theo phương thức liên doanh /Joint Venture giữa trung ương và chánh quyền địa phương, với số vốn đầu tư lên tới hơn nửa tỉ mỹ kim (3,800 triệu nhân dân tệ yuan).
Phải nói là con đập Manwan đã đóng một vai trò quyết định trong kế hoạch điện khí hóa, kỹ nghệ hóa, đô thị hóa cả một vùng tây nam Trung Quốc từ kém phát triển đã mau chóng tiến kịp và sánh vai với các tỉnh trù phú miền đông và
đông bắc.
Tuy đã có kế hoạch từ những năm 70, nhưng vì thiếu ngân sách nên mãi tới tháng 5 năm 1986, công trình đập Manwan mới chính thức được khởi công và việc đổi dòng / river diversion con sông Mekong được hoàn tất vào tháng 10 năm 1987.
Con đập cao tới 99 mét chắn ngang khúc sông giữa hai ngọn núi với bức tường thành cao tới 35 tầng. Đơn vị phát điện đầu tiên bắt đầu sản xuất điện từ ngày 30 tháng 6 năm 1993 và chỉ hai năm sau đó, ngày 28 tháng 6 năm 1995, tất cả 5 đơn vị phát điện cùng hoạt động đúng theo như giai đoạn 1 của dự án.
Tưởng cũng nên nhắc lại ở đây một sự kiện đáng ghi nhớ và gây nhiều tranh cãi là vào giữa năm 1993, xảy ra một hiện tượng được coi là bất thường: mực nước con sông Mekong phía hạ lưu đột ngột tụt thấp xuống mà không vào mùa khô, chỉ lúc đó người ta mới được biết là Trung Quốc đã xây xong con đập Manwan và đó là thời điểm bắt đầu lấy nước từ con sông Mekong vào hồ chứa và họ cũng chẳng thèm thông báo gì cho các quốc gia dưới nguồn. Chỉ riêng với con đập Manwan mà đã giữ tới 20% nguồn nước trên dòng chính khúc sông Mekong chảy qua Vân Nam.
Sau biến cố đó phải nói là càng ngày càng có mối lo âu về ảnh hưởng của chuỗi đập bậc thềm Vân Nam. Mối quan tâm đó càng ngày càng gia tăng do nguyên nhân thiếu hẳn nguồn thông tin cung cấp bởi Trung Quốc. Thiết kế và xây dựng xong con đập Manwan đầu tiên được kể là "một hoàn tất có tính cách lịch sử", đã khiến cho Phân bộ Điện lực Vân Nam thấy rõ tiềm năng thủy điện phong phú của con sông Mekong là rất phù hợp cho những nhà máy thủy điện khổng lồ khác có công suất lớn với mạng lưới dẫn cao thế / extra high voltage.
Tiến tới xây dựng thêm các đập thủy điện bậc thềm / Mekong Cascades trên sông Mekong là tạo sức bật cho các bước phát triển kinh tế và xã hội không chỉ riêng cho tỉnh Vân Nam mà còn hoàn tất một "chiến lược chuyển điện từ Vân Nam tới các tỉnh khác của Trung Quốc".
Kể từ khi hoàn tất công trình Manwan, ban lãnh đạo nhà máy đã đề ra nguyên tắc chỉ đạo cho tập thể công nhân đập Manwan, đó là "lao động cật lực, cố gắng hiệp đồng, kỷ luật nghiêm ngặt, chi ly nhưng thực tiễn tiến tới một xí nghiệp hàng đầu ".
Tuy bước khởi đầu có những khó khăn: do thiếu kinh nghiệm, trang thiết bị không đạt tiêu chuẩn nhưng rồi tất cả đã được vượt qua để Manwan "đạt thành công trên nhiều phương diện cả về kỹ thuật vật chất, văn hóa và ý thức hệ" [sic].
Tháng 12 năm 1996, nhà máy thủy điện Manwan được Đảng ủy và Chánh quyền Vân Nam phong danh hiệu "Đơn vị Tiên tiến cấp Tỉnh", đồng thời cũng được Văn Phòng Phân bộ Điện lực Vân Nam chọn là đơn vị tiên tiến trong 5 năm liền.
Tháng 4 năm 1998, Manwan lại được nhận danh hiệu từ Bộ Điện lực Trung Quốc là "một trong 400 đơn vị tiên tiến toàn quốc trong nỗ lực trồng cây gây rừng / afforestation". Tháng 3 năm 1999, Manwan được Tổ hợp Năng lượng Nhà nước công nhận là "xí nghiệp sáng tạo hàng đầu / nhà máy thủy điện hàng
đầu", đây là một vinh dự hiếm hoi vì là nhà máy thủy điện lớn đã đạt mức hoạt động an toàn và liên tục trong nhiều năm với những trang thiết bị chế tạo trong nước.
Bước vào thế kỷ 21, trước những cơ hội và thử thách, nhà máy thủy điện Manwan sẽ phấn đấu để hiện đại hóa, tự động hóa / automation phát triển đạt tới tiêu chuẩn quốc tế của những nhà máy thủy điện hiện đại khác trên thế giới nhằm đáp ứng nhu cầu của thị trường năng lượng trong tương lai.
Ngày thứ ba ở Vân Nam đã thực sự là một ngày đáng ghi nhớ. Buổi sáng sớm khởi hành từ Côn Minh để đi khoảng 500 cây số đường bộ về hướng nam, đi về nơi hoang dã để tìm kiếm một địa danh mà chính người tài xế hướng dẫn cũng
chưa hề đặt chân tới.
Ra khỏi Côn Minh đi một đoạn theo Con Đường Tốc Hành / Express Way về hướng tây. Đây là một xa lộ mới nối Côn Minh với cổ thành Đại Lý, do chánh quyền trung ương tặng nhân dân tỉnh Vân Nam nhân dịp Expo 99 (Kunming's 1999 World Horticultural Exhibition). Đây là xa lộ rất tối tân có cả bảng
hiệu giao thông tiếng Anh với con đường hầm xuyên núi dài ngót 4 cây số không thua bất cứ một xa lộ nào đẹp nhất của Mỹ. Từ Côn Minh tới Đại Lý, thay vì phải 12 giờ ngồi xe trên con lộ cũ, với con đường mới rút ngắn chỉ còn từ 4-5 tiếng. Là một con đường ngoạn cảnh / scenic route thật đẹp với núi đồi
và thung lũng một màu xanh, qua các làng mạc với những căn nhà tường gạch đỏ mái xám cong, thỉnh thoảng lại vượt nhô lên nóc của một ngôi thánh đường Hồi giáo. Vân Nam rồi Tân Cương vẫn là những tỉnh có đông người gốc Hồi giáo người Hán gọi họ là Hui có gốc gác từ thế kỷ thứ 13 khi quân Mông Cổ xâm lăng Trung Quốc, với thường xuyên những cuộc nổi dậy, họ được coi là cội nguồn bất an của Trung Quốc. Theo Wu thì người Hui buôn bán giỏi lại được miễn các sắc thuế nên cuộc sống khá sung túc.
Đường tốt, xe chạy với tốc độ cao, buổi sáng hôm đó chưa quá nửa đoạn đường đã phải chứng kiến 3 tai nạn, một chết người của chiếc xe vận tải lớn Đông Phong với máu me trên mặt lộ và vô số mảnh kính vỡ. Tài xế của những xe tải nặng này thường rất trẻ, mới ngoài 20, chạy vượt nhau cứ như là xe đua cho dù cũng đã có các trạm cảnh sát giao thông chặn bắt cho giấy phạt và cả treo bằng lái.Chạy khoảng hơn 150 km của chặng đường dài ngót 400 km trên Con Đường Tốc Hành thuộc xa lộ 320 về hướng Đại Lý, sau đó xe rẽ sang quốc lộ 214 đi về phương nam, hướng tới con đập Manwan. Bây giờ thì tôi biết được ý nghĩa của những con số chỉ danh cho những con lộ Vân Nam: số 3 của quốc lộ 320 chỉ hướng đông tây, số 2 của quốc lộ 214 chỉ những con đường hướng bắc nam. Cả những ký hiệu chữ trên các bảng số xe: chữ A là từ Côn Minh, L Đại Lý, K Cảnh Hồng, J Tư Mao. Ngược chiều với chúng tôi bây giờ là chiếc xe hàng mang biển số K Cảnh Hồng vấy đầy những bụi đỏ chở đầy kháchđi Đại Lý; nếu suôn sẻ cuộc hành trình của họ cũng phải qua một ngày với một đêm.
< CÒN TIẾP>
songchampls | 22 February, 2010 15:29
| |
"Nàng tiên nâu" trong một tiệm hút thuốc phiện tại Hà Nội - 1915 |
| |
| Thuyền buôn chuối ở một bến sông Hồng - 1915 |
| Phố Hàng Thiếc - 1915 |
| |
| Viết câu đối tết trên phố - 1915 |
| Phố Tràng Tiền - khoảng 1914-1915 |
| |
| Phố Hàng Gai - 1915 |
| |
| Một tàu buôn của người Hoa trên sông Hồng - 1915 |
| |
| Cầu Long Biên (tên Pháp đặt là cầu Paul Doumer) - 1915 |
| Một viên quan đại thần triều Nguyễn tại Hà Nội - 1920 |
| |
| Ni cô - 1915 |
| Gia đình quan lại tại Hà Nội - 1915 |
Hà Nội xưa trong "kho tư liệu hành tinh" của Albert Kahn
TTCT - Năm 1909, ông Albert Kahn, một chủ nhà băng triệu phú - cũng là một nhà hoạt động từ thiện nổi tiếng người Pháp, bắt đầu tiến hành một dự án đầy tham vọng: xây dựng kho tư liệu ảnh màu về (và cho) tất cả các dân tộc trên thế giới nhờ kỹ thuật chụp ảnh màu tiên tiến nhất thời đó do hai anh em Auguste và Louis Lumière phát minh năm 1907.
Đó là quy trình xử lý bằng kính ảnh màu (autochrome) giúp dễ dàng chụp được những bức ảnh với màu sắc trung thực. Là một người lý tưởng và theo chủ nghĩa quốc tế, Albert Kahn tin rằng ông có thể dùng tài sản khổng lồ của mình tạo ra một "kho tư liệu hành tinh" nhằm cổ vũ hòa bình và góp phần vào sự hiểu biết giữa các nền văn hóa.
Cho tới nay, 72.000 bức ảnh màu trong dự án của Albert Kahn được thực hiện hơn một thế kỷ trước vẫn là bộ sưu tập quan trọng nhất về thời kỳ nhiếp ảnh màu đầu tiên trên thế giới. Dù vậy còn rất nhiều ảnh trong bộ sưu tập này chưa từng được ấn hành và xuất bản như những bức ảnh xưa về Việt Nam và Hà Nội, được chụp vào khoảng những năm 1910-1920.
Để có "kho tư liệu hành tinh", Albert Kahn thuê các nhà nhiếp ảnh gan dạ và dũng cảm đi tới hơn 50 nước trên thế giới - thường là những điểm nóng và đầy bất ổn thời bấy giờ, nơi các nền văn hóa cổ kính đang ở bên bờ vực của những đổi thay chưa từng thấy bởi chiến tranh gây nên cũng như bởi sự vận động theo hướng toàn cầu hóa từ đầu thế kỷ 20.
Ống kính của họ đã ghi lại sự sụp đổ của đế chế Áo - Hung và Ottoman cùng sự ra đời của một số quốc gia mới tại châu Âu và Trung Đông; cuộc sống trong chiến hào của những người lính tham gia Thế chiến I trước các trận đánh ác liệt mà họ sẽ mãi mãi không trở về. Họ cũng chụp được nhiều hình ảnh ở nhiều vùng đất xa xôi mà thế giới ngày đó chưa từng biết tới như tại Việt Nam, Nhật Bản, Brazil, Mông Cổ, Benin...
Cho tới đầu năm 1929, Albert Kahn vẫn còn là một trong những người giàu nhất châu Âu nhưng đến cuối năm đó, khi cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu bắt đầu diễn ra với sự sụp đổ của thị trường chứng khoán Phố Wall, thì tài sản của ông cũng mất dần và Albert Kahn buộc phải ngừng dự án "kho tư liệu hành tinh" vào năm 1931.
Albert Kahn qua đời năm 1940. Di sản ông để lại hiện được lưu giữ tại Bảo tàng Albert Kahn, cũng là ngôi nhà ông sinh sống nhiều năm tại Boulogne-Billancourt ở ngoại vi phía tây Paris. Nơi đây là một khu vườn tuyệt đẹp thu hút đông đảo du khách bốn phương.
Bạn có thể xem thêm ảnh tại website http://www.albert-kahn.fr/.
|
| Ở Ỉeland mà có những căn nhà xưa, giống nhà tranh vách đất của ta quá Woman and child outside the smallest house in Claddagh, Galway, Ireland, June 1913 © Musée Albert Kahn |
![]() |
| An actor and an actress, Hanoi, Tonkin (now North Vietnam), autumn 1915 © Musée Albert Kahn. |
songchampls | 12 February, 2010 10:51
songchampls | 11 February, 2010 08:22
Dòng chảy sông Sài gòn
Đã có rất nhiều bài báo ví von: Việt Nam gia nhập WTO giống như một con tàu từ sông tiến ra biển lớn. Để cảm nhận sự so sánh đó, tôi đã thực hiện một chuyến đi từ Sở giao dịch Chứng khoán Tp.HCM ra bến Bạch Đằng, xuống một chiếc ghe bầu và xuôi dòng sông Sài gòn ra cửa biển Vũng tàu. Có nhiều loại tàu, thuyền có thể từ Sài Gòn ra biển, nhưng tôi đã chọn ghe bầu, bởi xưa kia nó là một trong những lọai thuyền buôn đi biển và mang nhiều nét đặc sắc của Việt nam.
Ghe bầu các lái đi buôn
Đêm khuya ngồi buồn, kể chuyện ngâm nga
Bắt đầu Gia Định kể ra
Anh em thuận hòa ngoài Huế kể vô.
Bài đăng trên Báo DTCK số Tết
8h30 sáng, khúc sông gần chỗ Cảng Sài gòn tầm này đông đúc như một cái chợ. Tàu bè cái thì cập cầu cảng, cái thì neo ngòai phao, cái thì đang dỡ hàng cẩu lên xuống tơi tới, con thì đậy nắp hầm hàng im lìm, năm sáu cái sà-lan chở cát neo giữa dòng làm khúc sông hình như chật chội hơn...Xem ra cái khúc sông này có gì đó giống như thị trường chứng khoán Việt nam. Mỗi con tàu là một mã chứng khoán, cái đầy hàng, cái rỗng không, chiếc dỡ nhanh, con xếp chậm, tàu chở nhiều tàu chở ít...nào có khác với quy mô doanh nghiệp và khối lượng giao dịch mỗi ngày. Đầu năm nay, cả ngành hàng hải thế giới lao đao. Tàu không hàng neo đậu ở biển Singapore nhiều như lá tre, thì cảng Sài gòn cũng im lìm vắng lặng. Mấy tháng ấy có lúc cảng cả ngày chỉ có non 20 chục tờ khai hàng hóa nhập khẩu, còn ít hơn cả số nhân viên hải quan. Đấy cũng là lúc lạm phát, lãi suất ngân hàng cao vọt, kim ngạch nhập khẩu giảm mạnh, hết những tin những con xe hàng triệu đô được nhập, căn hộ penhouse hàng chục tỷ được bán...và Sở giao dịch Chứng khóan cách đó vài trăm thước cũng buồn hiu hắt. Thế mới biết cái câu thị trường chứng khóan là phong vũ biểu của nền kinh tế cũng chả sai tẹo nào.
Ghe chạy một lúc đã thấy cầu Phú Mỹ trước mặt. Từ dưới sông trông lên, cây cầu vắt qua hai bờ như dải lụa thấy bắt mắt lắm. Cây cầu này đã từng là tâm điểm của nhiều tờ báo. Lúc chưa khởi công thì nó là được nhắc tới như là một hình thức đầu tư xây dựng mới. Lúc đang làm thì ồn lên chuyện không cho tàu cao trên 38 mét lưu thông, cứ như là sông bị bịt, cảng chết đến nơi. Còn dạo tháng 10 khi tiền đổ vào thị trường hàng mấy ngàn tỷ đồng mỗi ngày, thì nó lại được coi là đơn vị chỉ khối lượng tiền tệ giao dịch bởi nhiều cư dân chứng khóan mạng thường nói hôm qua dư mua một cây cầu hoặc hôm nay thị trường giao dịch được tới 2 chiếc cầu Phú Mỹ .
Đường đi nào rồi cũng phải đến chỗ rẽ. Trên bộ ngã ba dễ phân biệt lắm, nhưng ở dưới nước mênh mông nhìn ra đâu là ngã ba quả là khó. Vì thế ở cái chỗ " Nhà Bè nước chảy chia hai. Ai về gia Định, Đồng nai thì về " người ta đặt một cái đèn và gọi nó là ngã ba đèn đỏ. Cái tên Nhà Bè gắn với câu chuyện về ông Thủ Hoằng. Để cứu nhân độ thế, ông đã làm những cái bè nứa, trên đó để sẵn gạo, muối, củi và cho neo ở ngã ba này. Cái bè ngày ấy đã giúp nhiều con thuyền, giúp cho những người lỡ đường sông nước tạm dừng ghe xuồng nghỉ ngơi, chờ con nước lớn mà ngược vào vùng Gia Định, Bến Nghé hay vòng sang ngả sông Đồng Nai, hoặc chờ con nước ròng mà xuôi ra cửa biển Cần Giờ. Cái tên nhà Bè đã trở thành một địa danh. Xem ra không chỉ trên sông người ta mới cần làm nhà bè, mà trong dòng chảy tài chính, chứng khóan người ta cũng cần phải có những "nhà bè" - bến hỗ trợ, những quỹ dự phòng, những gói kích cầu để cứu giúp nhiều doanh nghiệp khỏi lao đao, tiếp thêm sức cho họ....
Ra khúc ngã ba Nhà bè, ghe chạy nhanh hơn, nước rẽ hai bên. Bác tài công vui vẻ mời tôi cụng chai bia Sài gòn. Nào dzô ! Thuận buồm xuôi gió chén chú chén anh. Chưa kịp uống hết thì có cái tàu cánh ngầm xé nước chạy ngang qua. Ghe chòng chành ghê quá. Sóng đấy chứ đâu ! Sóng do thiên nhiên gió, bão, thủy triều gây ra thì hẳn rồi, nhưng còn có cả những đợt sóng do con người tạo nên nữa. Nhiều người biết "lướt sóng", nương được sóng mà giàu, nhưng cũng khối người, khối tàu ghe nhỏ không biết cách đi thì bị sóng nhấn chìm, lỗ lã cả đống tiền. Xem ra loại sóng người, sóng chứng khoán ấy cũng ghê gớm không kém và câu hát "Thuận buồm xuôi gió. Chén chú, chén anh. Nước ngược chèo quanh. Mày tao chi tớ!" nếu vận vào chứng khóan cũng ý nghĩa lắm.
Ghe chạy thêm vài mươi phút nữa là đến khu vực phà Bình Khánh. Phà này là sợi dây nối giữa Sài Gòn và huyện đảo Cần Giờ. Nhìn về hướng ấy, thấy thấp thóang những chiếc tàu của Hải Quân với các ống phóng tên lửa bên sườn. Những con tàu chiến này đang nằm ở một ngã ba. Từ ngã 3 này có 2 đường ra biển. Thông thường thì tàu bè phải đi qua sông Lòng tàu ngoằn nghèo. Còn muốn đi đường gần hơn thì có thể xuôi theo nhánh sông Soài Rạp. Khổ nỗi dòng Soài Rạp có một đọan cạn mà người ta hô quyết tâm nạo vét cho tàu lớn vào bao nhiêu năm nay chưa xong. Hội nhập rồi, không cứ tàu chiến, tàu hàng mà nhiều "con tàu" của các lĩnh vực khác nhau đang đòi hỏi thúc ép khai thông luồng lạch, tháo bỏ những rào cản để ra khơi bảo vệ biển đảo, chở hàng hóa Việt Nam đi năm châu bốn biển, để chấn hưng kinh tế nước nhà...
Luồng lớn Soài rạp chưa thông cho tàu lọai lớn, chúng tôi lại cũng không muốn đi theo lối mòn Lòng tàu, nên chúng tôi đánh liều len lỏi vào các con sông nhỏ. Nhìn trên bản đồ thấy vùng này nhiều sông quá nào là sông Ngã Bảy, sông Đồng Tranh, sông Vàm Sát...và vô khối các con lạch. Không có biển chỉ đường, không dấu hiệu nhận biết. Chốc chốc lại thấy một rặng cây trước mặt, rồi lại một nhánh sông mở ra, không biết rẽ đường nào. Nhiều lúc ghe phải dừng lại để mở máy định vị, xem bản đồ, hỏi dân chài rồi mới dám đi tiếp. Vượt qua khúc đó ngoái lại hóa ra đó chỉ là một cù lao nằm giữa sông. Cảm giác vượt được trở ngại, tìm đúng đường đi khiến cả ghe phấn khích chẳng kém gì các nhà đầu tư dự đoán đúng thị trường, tránh được những bull trap...
Chạy qua một khúc quanh trên sông Gò Gia, đột nhiên một khung tranh lớn hiện ra. Có màu xanh thẫm của núi Vũng Tàu phía xa, có màu lá xanh tươi của rừng nước mặn nguyên sinh, có bóng dáng hiện đại của một thành phố cảng công nghiệp. Tháng 6 năm nay hai Cảng container hiện đại đã hòan thành bên bờ sông Cái Mép- Thị vải. Dòng sông này là một vết đứt gãy của tự nhiên, không có sông nào ở Việt nam có độ sâu tới 19 m, nước xanh sâu thăm thẳm. Nó đã được chọn để xây cảng nước sâu quốc tế cho cả Miền Nam. Tàu bè cỡ lớn của Mỹ, Châu Âu, Châu Á...sẽ trực tiếp ra vào Việt nam mà không còn phải chuyển tải tại các nước láng giềng. Một giai đoạn mới đang mở ra với biển cho đất nước.
Ra đến phao số không. Chiếc ghe bầu lọt thỏm giữa biển cả. Nhìn ra biển thấy mênh mông, lòng tôi không khỏi âu lo làm sao ghe này chạy ra biển được. Chừng như đọc được sự băn khoăn lo ngại, bác tài công kể rằng : từ hàng mấy thế kỷ trước những con thuyền của ông cha ta vẫn ra Hoàng sa, Trường sa đánh bắt cá, giữ gìn mảnh đất tổ quốc. Những chiếc thuyền, ghe ngày xưa không có máy chỉ có buồm mà vẫn chở hàng ngược xuôi đàng trong đàng ngòai tới cả các nước lân cận.
Bây giờ, Việt nam đã ra biển với những con tàu hiện đại; tự chúng ta đã đóng được những con tàu vượt đại dương, đi vòng quanh thế giới. Có thuyền trưởng giỏi, sóng yên biển lặng, không có bọn cướp biển nhòm ngó, không có tàu lạ tấn công, biết gối sóng mà đi, biết lựa luồng mà chạy thì lo gì không đến đích...Ngẫm ra, những câu nói của người đi biển còn bao hàm những ý nghĩa cho nhiều doanh nghiệp Việt nam thời hội nhập tòan cầu.
songchampls | 10 February, 2010 15:46
Vẻ đẹp kiều diễm của những bông hoa, của những vườn hay cánh đồng hoa đã được nhắc đến quá nhiều trong thơ ca, phim ảnh. Nhưng để có những bông hoa, những vườn hoa ấy, người làng hoa Đằng Hải hay bất kỳ một làng hoa nào khác trên cả nước, tất cả đều một nắng hai sương, bán mặt cho đất, bán lưng cho trời để mỗi dịp xuân về nhà nhà có chút hoa tươi đón Tết.
Về làng chụp ảnh những ngày giáp Tết, tôi gặp lại những gương mặt sạm nắng, những dáng người tần tảo, những lời ta thán về thời tiết, sâu bệnh bất thường, về giá hoa năm nay thấp quá. Trong những công việc nhà nông, không nghề gì tinh tế và cầu kỳ như nghề trồng hoa, cực nhọc như nghề trồng hoa, thấp thỏm, lo lắng cũng là hoa.
Lay ơn cần đất lạ nên mỗi năm phải cấy một lần. Cúc thèm ánh sáng nên đêm đêm đồng hoa sáng trưng đèn điện. Hồng thì sợ sâu bệnh nên cần phun thuốc thường xuyên. Lại còn phải toan tính sao cho nở trúng vào dịp Tết thì mới được giá, bằng không thì hòa vốn cũng khó khăn.
Trồng hoa đã vất vả, thu hoạch và bán hoa cũng rất nhọc nhằn. Đến làng hoa những ngày này, thấy ngoài đồng nhấp nhô những chiếc lều dựng tạm, đó là chỗ để người làng ngủ trông hoa đề phòng kẻ gian trộm mất. Những ngày này, đi bán hoa cũng muôn đằng khổ sở. Chỉ có mấy mấy ngày cuối năm để hy vọng thu lại công sức vốn liếng của cả một năm trời.
Tôi chọn những buổi chiều đã muộn để chụp ảnh làng hoa. Khi ấy, tưới tắm, làm cỏ, bắt sâu xong, người làng bắt đầu hái hoa mang về để buổi tối sắp xếp để ngày mai mang ra chợ bán. Cảnh thu hoạch hoa thực ra không rộn ràng và lãng mạn như trong trí tưởng tượng của nhiều người. Đó là một phần cuộc sống, công việc của người làng hoa Đằng Hải, có lẽ đó cũng là hình ảnh của tất cả những làng hoa, của những người trồng hoa để góp phần mang mùa xuân cho mỗi nhà, mỗi người...
![]() |
| Chiều theo ý thích của người chơi hoa, người Đằng Hải đã chuyển từ trồng các loại hoa khác nhau như thược dược, violet, huệ... sang các loại hoa cúc |
![]() |
Trồng cúc cũng khó như trồng các loại hoa khác vì phải chăm sóc, thắp đèn, phun thuốc sâu, tỉa bớt nhánh và nụ để bông cúc được dài và cao ngang người như thế này |
![]() |
| Chiều muộn, người làng bắt đầu hái hoa mang về. Suốt năm bán mặt cho đất, bán lưng cho trời, đến lúc thu hoạch cũng thế |
![]() |
| Tìm những bông cúc đã nở để hái, người Đằng Hải gọi công việc đó là "bòn hoa", thật khó có từ nào chuẩn hơn để nói về sự tần tảo, lam lũ |
![]() |
| Chiếc nón bỏ trong rọ, sau xe là bó hoa lớn, vừa dắt xe vừa dụi mắt, lau trán... |
![]() |
| Xe được lăn bánh trên đường, chân người bước dưới dõng hoa... |
![]() |
| Xe hoa nặng, cần có người đẩy để vượt qua bờ ruộng |
![]() |
| Một em bé theo mẹ ra đồng |
![]() |
| Một nụ cười hiếm hoi trong những khuôn hình tôi đã chụp ở làng hoa Đằng Hải, em bé này hình như chưa biết đến sự nhọc nhằn của ông bà, cha mẹ |
![]() |
| Những khu dân cư đang mọc lên, lấn vào đất trồng hoa. Không chỉ vất vả sớm hôm, người trồng hoa ở Đằng Hải và rất nhiều làng hoa khác trong cả nước đang đứng trước nguy cơ mất nghề khi các dự án đang lấy đi đất đai ruộng vườn của họ |
![]() |
| Gánh hoa. Một hình ảnh có lẽ chỉ còn ở Đằng Hải. Cách trung tâm thành phố không xa, người Đằng Hải gánh hoa vào phố để bán. Dù đã có xe máy, xe đạp, nhưng nhiều bà, nhiều chị đi bán hoa vẫn giữ thói quen này |
![]() |
| Vai trái quẩy đôi thùng tưới, nách phải cắp bó hoa vừa bòn, một phụ nữ tất tả trên đường về nhà khi đêm đã xuống, đèn đường đã bật |
Lưu Quang Phổ
(thực hiện)
songchampls | 04 February, 2010 10:51
Loáng cái mà đã 1 năm. Ngày 23 tháng chạp năm ngóai, mấy gia đình tổ chức ăn tết sớm ở nhà anh bạn miệt Củ Chi. Tầm 2h chiều, mọi người bắt đầu giết lợn, pha ướp thịt, cắt lá, vo gạo, đãi đỗ, giã lá riềng, nhuộm gạo, nắm đỗ...Cả một góc sân nhộn nhạo hẳn lên. Quanh 3 cái nia là nhóm gói bánh chưng. Bên cạnh cái giếng gạch là nhóm đánh tiết canh, dồi tiết, làm lòng, xào xào nấu nấu chuẩn bị cho bữa rượu tối trông bánh chưng. Còn mấy bác lớn tuổi ngồi bắn thuốc lào, uống nước trà vừa chỉ đạo vừa bàn phải thế này, phải thế này...
Trời nhá nhem tối, bọn trẻ bắt đầu xúm vào dựng lều để ngủ ngòai trời. 9 đứa của 4 gia đình. Hai cậu lớn nhất thì mười ba, mười bốn cũng khá cao to, mấy đứa nhơ nhỡ lên chín lên mười, đứa bé nhất lên 4, cả bọn đứa nào việc ấy chỉ còn 2 chíp miệng còn hơi sữa thì chỉ được phép đứng ngó từ xa.
Chọn được chỗ đất bằng phẳng, bọn trẻ xúm xít vào việc. Ba cậu nhơ nhỡ được phân công dọn dẹp hiện trường. Đứa thì nhặt rác, đứa lấy xẻng xúc đất lấp bằng mấy chỗ trũng. Hai cậu lớn thì dỡ túi lều bạt, lắp ghép các thanh sắt làm xương. Cái lều này được thiết kế rất hay. Một tấm bạt lớn cả phần đáy, mái và vách may sẵn thành một cái túi lớn. Các thanh sắt làm khung chỉ dài khoảng 1 mét, nối lại được với nhau, khớp nào vào khớp ấy, lỡ có lắp nhầm ông nọ bà kia thì cũng không khớp. Khi dựng xong sẽ có 4 phòng ngủ, một phòng khách, có 2 cửa ra vào, kéo phéc-mơ-tuya lại thì không rắn rết nào chui vào được. Hai cậu lớn cũng khôn, chúng ráp khung rồi xếp thành từng loại dài ngắn khác nhau. 2 khung bán nguyệt dài nhất chắc chắn là ở giữa lều rồi, 2 khung nhỏ là ở hai đầu hồi, 2 cái khung cong cong bé hơn chắc là ở cửa. Tranh cãi mất mấy phút rồi chúng cũng tìm cách luồn khung vào được tấm vải bạt.
Cả bọn 8 thằng con trai mà chỉ có một đứa em gái là Nhím. Chắc là quý em nên chúng không muốn Nhím động tay vào. Nhưng con bé không hiểu nên có vẻ tức. Nhiều trò hàng ngày đã ít được chơi chung, giờ việc trọng đại thế này mà lại bị gạt ra. Con bé nói:
- Này các anh không được trọng nam khinh nữ nhé. Mấy năm nữa là có bạn gái rồi, lớn lên còn phải lấy vợ nữa đấy!
Bụm miệng cười nhưng phải công nhận con bé nói đúng. Hai trống choai đang tuổi lớn. Mép đã thấy mờ mờ đen đen. Thanh niên ngày xưa bằng tuổi chúng có khi đã biết lấy nước vuốt tóc, có khi còn biết thích bạn gái theo kiểu trẻ con. Thời hiện đại bây giờ có khi chúng còn lớn nhanh hơn xưa. Thích chứng tỏ bản thân, thích thể hiện cá tính, thích ganh đua nhau học, tập thể thao lấy le với bạn gái cùng lớp...đó cũng là việc bình thường.
Cậu bé nhất có vẻ như làm vướng chân các anh chị. Đến nhóm nào cũng bị nói: "em ra chỗ khác chơi đi". Cậu bé ngân ngấn nước mắt khi bị từ chối lần thứ hai, và òa khóc khi bị từ chối lần ba. Tôi bèn phải phong chức cho nó : Thôi cháu làm trợ lý giám đốc cho chú. Cháu cứ chắp tay sau đít, đeo túi chốt nhựa vào cổ, anh chị nào hỏi xin mới đưa. Nó toét miệng cười khi thấy mình quan trọng.
Chuẩn bị xong xuôi rồi, bây giờ đến lúc phải dựng lều lên. Việc này khó đây vì cái khung khi đã luồn vào bạt khá nặng. Chúng loay hoay mà chưa tìm ra cách, đành phải nhờ người lớn giúp thôi. Hai chú khác chạy lại giúp, còn mỗi đứa giữ một chân lều. Một lúc sau khung chính đã được dựng lên. Mấy đứa kéo dây cho căng ra rồi cắm đinh nhựa ghim xuống đất.
Việc dựng lều đã hòm hòm thì người lớn mắc phải sai lầm. Mấy ông bố ở nhà hay áp đặt chúng nó, con phải thế này con phải thế kia...nên bị chúng gọi là chính quyền. Chính quyền sau khi giúp dựng khung xong không chịu rút lui khỏi bãi cỏ. Các ông bố lại làm tranh phần việc của chúng, bắt chúng đi làm vệ sinh bên trong lều. Hơi buồn, nhưng mấy đứa còn non lắm không biết phản ứng ra làm sao cả. Nhím thì lẩm bẩm một câu lạnh tanh "Đang vui thì người lớn nhảy vô làm thay".Hai cậu lớn có vẻ có kinh nghiệm đối xử với người lớn hơn bèn quay ra xin dựng một cái lều nhỏ để tối ngủ riêng". Mặc dù bị người lớn gàn "lều lớn rộng rồi, cần gì phải làm thêm" nhưng chúng vẫn không từ bỏ ý định. Năn nỉ mãi rồi người lớn cũng xiêu lòng. Lại thấy gương mặt chúng rạng lên.
Thì ra bọn trẻ bây giờ biết suy nghĩ cảm nhận nhiều hơn ta tưởng. Chúng cũng muốn được tự thích làm theo ý mình, không muốn bố mẹ can thiệp quá sâu vào mọi chuyện, muốn được tự do...Khó nhỉ, làm cha mẹ, lúc nào cũng nghĩ con mình còn quá bé, thấy làm gì không vừa ý là lại muốn làm thay. Lúc nào cũng muốn kiểm soát hết mọi việc, cũng sợ con mình hư. Đành rằng, bây giờ xã hội không trong lành như xưa, nhiều cạm bẫy, trẻ dễ bị hư, nhưng sau chuyện dựng lều này có lẽ chúng ta phải thay đổi cách nhìn nhận về bọn trẻ. Hôm nay các con dựng được lều, mai này người lớn có quyền hy vọng vào một cái gì đó lớn lao hơn.
Mặt trời vừa lặn thì lều cũng dựng xong. Đêm nay bọn trẻ sẽ có một đêm vui. Tết này chúng vẫn chưa được dựng cây nêu, nhưng chúng đã dựng được một cái lều.Nồi bánh chưng đã bắt đầu sôi, Tết đang đến rất gần...
songchampls | 01 February, 2010 12:54

Email:
songchampls@gmail.com
| « | March 2010 | » | ||||
|---|---|---|---|---|---|---|
| Mo | Tu | We | Th | Fr | Sa | Su |
| 1 | 2 | 3 | 4 | 5 | 6 | 7 |
| 8 | 9 | 10 | 11 | 12 | 13 | 14 |
| 15 | 16 | 17 | 18 | 19 | 20 | 21 |
| 22 | 23 | 24 | 25 | 26 | 27 | 28 |
| 29 | 30 | 31 | ||||

